Tông Huấn Familiaris Consortio Không Cấm Tín Hữu Ly Dị Tái Hôn Xưng Tội

Đăng lúc: Thứ sáu - 02/12/2016 21:59 - Người đăng bài viết: Ban Truyen Thong
TÔNG HUẤN FAMILIARIS CONSORTIO KHÔNG CẤM
TÍN HỮU LY DỊ TÁI HÔN LÃNH NHẬN BÍ TÍCH GIẢI TỘI
 

JB. Lê Ngọc Dũng

 
Theo hướng mục vụ của Hội Thánh, là Bí Tích của ơn độ cũng là người mẹ không bao giờ bỏ rơi con cái mình, xin kính gởi bài viết này đến tất cả các vị mục tử.
 Trong Tông Huấn Familiaris Consortio, của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, ban hành ngày 22-11-1981, ở số 84 về người ly dị tái hôn, ngài kêu gọi: "Hội Thánh phải cố gắng không biết mỏi mệt để đem các phương tiện cứu rỗi của mình cho họ sử dụng" (FC, 84). Sự kêu gọi lại càng khẩn thiết hơn với những kêu gọi tương tự của Đức Giáo Hoàng Phanxicô, do sự tách lìa khỏi Giáo Hội hay bỏ đạo nơi những người trong tình trạng hôn nhân "bất quy tắc", mà ngày càng gia tăng rất nhiều.
Để đáp ứng với lời kêu gọi khẩn thiết "… đem các phương tiện cứu rỗicho người ly dị tái hôn tại Việt Nam, xin các vị mục tử, hãy lưu tâm xem xét đến một phương tiện là Bí Tích Giải Tội.
 

1. Một thực trạng thật đau buồn
 
Tại sao lại xem xét đến Bí Tích Giải Tội?
Bởi vì trong khi Giáo Hội đang bận tâm là làm sao cho người ly dị tái hôn được hiệp thông mạnh mẽ với Hội Thánh, do họ không được đón nhận Thánh Thể, thì ở tại Việt nam họ lại bị thêm một hình phạt là cấm Xưng Tội. Câu hỏi mà toàn Giáo Hội hoàn vũ đặt ra là: "Người ly dị tái hôn có được lãnh nhận Thánh Thể không?" Không hề thấy đặt ra: "Người ly dị tái hôn có được lãnh nhận Bí Tích Thống hối và Thánh Thể không?"
"Cấm xưng tội rước lễ" là từ ngữ thường được sử dụng ở Việt Nam và được áp dụng từ lâu đời và sau này lại được cũng cố qua số 1650 của Sách GLCG:
Vì thế, bao lâu còn sống trong tình trạng này, họ không được rước lễ. Cũng vậy, họ không thể đảm nhận một số trách nhiệm trong Hội Thánh. Chỉ những người hối hận vì mình đã vi phạm đến dấu chỉ giao ước và sự trung thành với Ðức Ki-tô, và cam kết sống tiết dục trọn vẹn, mới được giao hòa nhờ bí tích Thống Hối. (Bản dịch Việt ngữ của Tgp Hồ Chí Minh năm 1993).
 Áp dụng theo một điều cấm có từ lâu đời và được sách GLCG minh xác thì quả là điều đúng đắn. Vì vậy ở Việt Nam người rối hôn phối đều bị cấm Xưng Tội và Rước lễ.
Tuy nhiên, nếu nhìn vào thực trạng và nếu nhìn vào tâm thức của Hội Thánh là lòng từ mẫu yêu thương thì tự nhiên bất cứ ai cũng cảm thấy có vấn đề nghiêm trọng. Xin mô tả một ví dụ:
Một phụ nữ ly dị tái hôn mang tội phá thai, vào tòa để xưng tội. Vừa nói xong: "Con đang ở với chồng bất hợp luật Giáo Hội". Cha giải tội bảo: "Về đi, về chia tay chồng đi, phải chừa cải dứt bỏ tội kết hôn bất hợp pháp đó đi thì tôi mới có thể giải tội". Người phụ nữ năn nĩ: "Thưa cha con có tội phá thai". Cha giải tội nói thêm: "Nếu tôi giải tội cho bà, tôi sẽ làm hư phép giải tội, tôi mắc tội phạm thánh!"
Người phụ nữ đó đã đi, đi ra khỏi nhà thờ mà chỉ biết than thầm: "Chúa ơi, con, con thật là tội lỗi, nhưng làm sao con bỏ chồng con được! Còn thằng Cu, con Tít, cái Nhớn, cái Bé để ai muôi! Con đã cố gắng nuôi bốn đứa con thơ rồi, bây giờ con lỡ dại phá thai! Có phải vì vậy con xuống hỏa ngục muôn đời không? Con phải bỏ chồng con rồi mới có thể lên thiên đàng không?"
Về nhà bà kể lại sự việc, chồng chưởi thề to tiếng: "Thôi, không đạo nghĩa gì nữa hết, Chúa nào mà như vậy? Cha nào mà như vậy? Không đứa nào được đi nhà thờ, được học giáo lý gì nữa cả!"
Hai vợ chồng từ đó đã bỏ đạo và các thế hệ con cháu kế tiếp chẳng biết gì là đạo nữa!
Phải chăng cha giải tội đó đã trình bày một Thiên Chúa nhân từ tha thứ hay trình bày một Thiên Chúa theo quan điểm quá ư là duy luật của mình, để rồi đóng gông cùm vào tội nhân, để rồi đè những gánh nặng không ai gánh nỗi, hoặc để rồi "là những viên đá dùng để ném vào cuộc sống người ta"(AL, 305) như Đức Phaxicô đã cảnh giác trong Tông Huấn Amoris Laetitia? Thật là tại hại khủng khiếp!
Một trong những nguyên nhân quan trọng của sự lìa xa Giáo Hội của Châu Âu vào những năm thế chiến thứ hai và sau đó là sự cấm cách lãnh nhận các bí tích. Một giáo sư chia sẻ: "Người ta hoảng loạn, đói khát, mất niềm tin trước những đau khổ… Những ổ mãi dâm nằm gần những chỗ đóng quân. Cưới vợ lấy chồng vô trật tự. Có những cô gái bán mình chỉ vì một khúc bánh mỳ… Họ bị phạt không được xưng tội rước lễ vì lỗi luật Hội Thánh. Họ bị đẩy ra khỏi Hội Thánh cùng với con cháu họ. Một phần khác họ qua Tin Lành. Những người Công Giáo còn lại không biết còn được bao nhiêu"!
Việt Nam hiện nay cũng đang phải đương đầu với những lối sống ảnh hưởng Tây phương, ly dị tái hôn, di dân từ thôn quê lên thành thị rồi kết hôn bất quy tắc … ngày càng gia tăng… Cũng đã có rất nhiều người vì không được xưng tội rước lễ nên đã xa nhà thờ, bỏ đạo. Nếu đi thăm dò kỹ lưỡng sẽ khám phá ra nhiều gia đình mà cứ tưởng là người lương nhưng thật sự họ đã có đạo nhưng nay đã bỏ đạo, nhất là ở những khu vực dân mới hay thành thị.
Thật là đau lòng!
Giáo Hội ý thức rất rõ vấn đề nguy hại này, cố gắng là làm sao ngăn ngừa được sự lìa bỏ Giáo Hội, kêu gọi các mục tử hãy tìm mọi phương thế để cho những người sống trong tình trạng ly dị tái hôn được hiệp thông với Hội Thánh.
Các vị mục tử, nhất là các vị chủ chăn của giáo phận, chắc hẳn sẽ cảm thấy đau xót và cảm thấy cần phải đặt vấn đề: Phải chăng Giáo Hội đã có luật hay mệnh lệnh của Đức Giáo Hoàng là cấm người ly dị tái hôn lãnh nhận Bí tích Thống hối?
Chúng con biết các vị chủ chăn giáo phận, tuy là rất quan tâm về vấn đề này, nhưng bận lo biết bao nhiêu công việc mục vụ, đâu có thời giờ để nghiên cứu một vấn đề rất khó. Cái khó là làm sao có thể hủy bỏ một điều đã được thực hành lâu năm và được sách Giáo Lý Công Giáo viết ra. Vì vậy, bài viết này có ý cung cấp những tài liệu chính thức, những lý giải cần thiết để các chủ chăn có cơ hội suy xét.
 
Trọng tâm của vấn đề người ly dị tái hôn không được lãnh nhận Thánh Thể được nói đến trong của Tông Huấn Familiaris Consortio ban hành năm 1981 do Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Tông Huấn Amoris Laetitiaban hành năm 2016 của Đức Phanxicô có mở ra một số điều. Vì vậy, Familiaris Consortio và những tài liệu hướng dẫn của Hội Thánh sau đó là những nên tảng để chúng ta suy xét vấn đề.
 

2. Đi từ tâm thức đạo đức: Giáo Huấn Giáo Hội không tự mâu thuẩn
 
Khởi đi từ tâm thức của Giáo Hội, chúng ta thấy ngay một sự bất ổn về luật cấm xưng tội.
Giáo Hội nếu cấm hoặc hạn chế tín hữu ly dị tái hôn lãnh nhận Bí Tích Thống hối thì Giáo Hội sẽ tự mâu thuẩn, vì điều cấm này đi ngược lại với lời kêu gọi của Giáo Hội là hãy tỏ lòng nhân từ của mình như là một người mẹ đối với con cái.
Những Giáo huấn của Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolo II trong Tông Huấn Familaris Consortio (FC, 84), của Đức Benedicto XI trong Sacramentum Caritatis (SC, 29) và của Đức Phanxicô trong Tông Huấn Amoris Laetitia(AL, 79-79) cũng trở thành những lời lẽ sáo ngữ rỗng tuếch, nếu ngăn chận con cái mình đến với Bí Tích Sám Hối để được ơn tha thứ.
Tại sao có thể khẳng định như vậy?
 
a- Lòng nhân từ tha thứ của Thiên Chúa thể hiện nơi Bí Tích Xá Giải 
Làm sao có thể biểu lộ lòng nhân từ tha thứ một khi chỉ nhìn thấy tội nhân là một kẻ đang mắc một tội nghiêm trọng mà không thể tha thứ, và hệ quả là cấm người ấy Bí Tích Xá Giải?
Phải chăng khi tội nhân đã ăn năn thống hối nhưng bị áp lực của bổn phận yêu thương, bổn phận duy trì một gia đình hạnh phúc, bổn phận lo cho con cái … mà không thể bỏ tình trạng tội đang sống thì họ vẫn mang thân phận của một tội nhân có tội nghiêm trọng không thể tha thứ?
Phải chăng những người trong những hoàn cảnh Tông Huấn Familaris Consortio nêu ra, mà Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolo II kêu gọi là hãy phân định, tội của họ không như những người cố tình ly dị tái hôn, lại phải chịu hình phạt như những người cố tình? Đức Giáo Hoàng kêu gọi phân định làm chi vô ích!
Và hơn nữa, Đức Giáo Hoàng Phanxicô trong Tông Huấn Amoris Laetitia cũng kêu gọi phân định như vậy:
"Vì các hình thức của điều kiện hóa và các nhân tố giảm khinh, rất có thể, dù ở trong một hoàn cảnh tội lỗi khách quan, một hoàn cảnh có thể không bị qui tội về phương diện chủ quan, một ai đó vẫn có thể sống trong ơn thánh Chúa, vẫn có thể yêu thương và lớn lên trong đời sống ơn thánh và đức ái, trong khi lãnh nhận sự giúp đỡ của Giáo Hội để tiến tới mục tiêu này. (AL, 305).
         Sự ngăn cản lãnh nhận Bí Tích Giải Tội là kết án tội nhân ngay trong hoàn cảnh tội lỗi khách quan của họ, là ngăn cản ơn tha thứ của Thiên Chúa từ ban tay của con người.
         Những ai ngăn cản nhưng người đang sống trong tình trạng hôn phối "bất hợp luật" đến với Bí Tích Giải Tội thì quả thực người ấy  đã làm cho những Giáo Huấn của các Đức Giáo Hoàng trở  thành những lời lẽ rỗng tuếch, hoa mỹ, những lời lẽ của những kẻ giả hình. Những người ngăn cản như vậy phải chịu trách nhiệm trước Thiên Chúa và Giáo Hội.
 
b- Cấm lãnh nhận Thánh Thể trong Tông Huấn số 84 không phải là vì tội trọng
Nếu như để ý thì thấy, lý do của cấm không được lãnh nhận Thánh Thể không phải là lý do tội nặng, đáng phạt, hay lý do "ngoan cố sống trong tội trọng tỏ tường" (đ.915). Có rất nhiều khẳng định của Giáo Huấn Giáo Hội cho thấy không phải là do tội nặng của họ mà họ bị cấm cho lãnh nhận Thánh Thể. Có thể thấy như sau:
Niên trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin, Đức Hồng y Ratzinger trong "Thư gởi cho các Giám Mục Giáo hội Công Giáo về việc nhận lãnh Thánh Thể bởi những tín hữu ly dị và tái hôn", ngày 14-9-1994, xác định cấm đây không phải một hình phạt hay là sự kỳ thị:
"Hệ quả, là họ không thể nhận Thánh Thể bao lâu tình trạng này tồn tại. Quy tắc này không hề là một hình phạt hay là sự kỳ thị, chống lại người ly dị và tái hôn, nhưng là một diễn tả một tình trạng khách quan mà chính nó khiến không thể lãnh nhận Thánh Thể".
Ở đoạn khác của thư, Ngài biểu lộ rằng họ có thể là những người đang sống trong ân sủng, chứ không phải cho những người được coi là chết trong ân sủng vì tội trọng:
"Tín hữu phải được  giúp hiểu sâu xa hơn giá trị của sự thông phần hiến tế của Đức Kitô trong Thánh lễ, của sự rước lễ thiêng liêng, của cầu nguyện, của suy gẫm Lời Chúa, của việc bác ái và sống công chính."
Đức Giáo Hoàng Phanxicô, trong Amoris Laetitia cũng cho thấy rõ:
không thể nào cho rằng, tất cả những ai trong hoàn cảnh “không bình thường” đều là sống trong tình trạng tội trọng hay không có ơn thánh hoá.” (AL, 301).
Ngài dạy tiếp:
Một mục tử không bao giờ được cảm thấy đủ khi chỉ biết đơn giản là áp dụng các nguyên tắc luân lý cho những người sống trong những hoàn cảnh “không bình thường”, như thể chúng là viên đá ném vào họ… Do bởi những điều kiện và các yếu tố giảm nhẹ, đôi khi trong một tình trạng tội khách quan, một người vẫn có thể sống trong ân sủng của Thiên Chúa, vẫn có thể tăng trưởng trong đời sống của ân sủng và bác ái, khi nhận được sự trợ giúp của Giáo Hội.” (AL,305).
Theo những giáo huấn trên, những người ly dị tái hôn vẫn có thể hiệp thông với Hội Thánh trong chính cử hành phụng vụ và trong cuộc sống đạo, vậy thì làm sao mà có thể tuyên kết tất cả họ là tội trọng hay là để ngăn cấm không cho họ lãnh nhận ơn tha thứ qua Bí tích Giải tội?
Họ có thể đang cần Thiên Chúa thứ tha, không những cho tội tái hôn mà vì hoàn cảnh không thể dứt bỏ mà còn về những tội nặng nhẹ khác trong cuộc sống. Họ đang cần hoán cải và được tha tội từng ngày, cần được lớn lên trong ân sủng.
Một sự cấm đoán ơn tha thứ cho tội nhân, quả thực là đi ngược lại với Giáo Huấn Giáo Hội, là một tội xúc phạm đến chính Tình Yêu Thiên Chúa và cũng là phạm đến Chúa Thánh Thần.
 

3. Đi từ những quy tắc giáo luật
 
Nếu nhìn về khía cạnh Giáo Luật, sự khẳng định có một luật cấm đòi hỏi nhiều yếu tố. Luật lệ là vì con người, là bảo vệ cho quyền lợi của con người chứ không bảo vệ cho chính nó. Về một điều hạn chế tự do hay quyền lợi của tín hữu, Giáo Luật đòi phải giải thích theo nghĩa hẹp và phải dựa theo một điều luật được phát biểu rõ ràng.
 
3.1. Những nguyên tắc
a- Phải giải thích theo nghĩa hẹp
Điều 18: Những luật ấn định hình phạt hay hạn chế tự do sử dụng các quyền lợi hoặc hàm chứa một ngoại lệ, thì phải giải thích theo nghĩa hẹp. 
Ví dụ:
Điều 1398 quy định: Người nào thi hành việc phá thai và nếu việc phá thai có hiệu quả, thì bị vạ tuyệt thông tiền kết.
Không được phép giải thích rộng ra để gán vạ tuyệt thông tiền kết cho người cộng tác tích cực phá thai vì ở đây nói rõ là người "thi hành". Người phá thai không hiệu quả, người có tội sát nhân có thể có tội luân lý rất nặng nhưng không bị vạ tuyệt thông tiền kết.
b- Ấn định minh nhiên:
Điều 1314 quy định: Thường thường, hình phạt là hậu kết, nghĩa là tội nhân không phải chịu hình phạt bao lâu chưa bị tuyên bố; còn hình phạt là tiền kết, nghĩa là phạm nhân phải chịu hình phạt tức khắc do chính sự kiện phạm tội, nếu luật và mệnh lệnh minh nhiên ấn định như thế.
Điều 1398 nói trên là một ví dụ cho sự minh nhiên của một hình phạt tiền kết, nói rõ ràng là người thi hành việc "phá thai có hiệu quả, thì bị vạ tuyệt thông tiền kết". Còn người phạm tội sát nhân thì không bị vạ tuyệt thông tiền kết vì không được luật nói rõ ràng như thế.
Vì Tông Huấn chỉ cấm được lãnh nhận Bí Tích Thánh Thể, ta không được nới rộng lệnh cấm để cấm lãnh nhận tất cả các bí tích khác và cũng không nới rộng để  cấm lãnh nhận Bí Tích Hòa Giải.
 
3.2. Tông Huấn không minh nhiên cấm lãnh nhận Bí Tích Thống Hối
 Câu "Việc giao hòa bằng Bí tích thống hối – là Bí tích mở đường cho Bí tích Thánh Thể – chỉ có thể được ban cho…” là không minh nhiên rõ ràng là cấm lãnh nhận Bí Tích thống hối, vì câu văn có thể được hiểu khác đi, như sẽ được phân tích ở phần sau của bài này.
Nếu có cấm lãnh nhận Bí Tích Thống Hối, vốn là một bí tích quan trọng cho phần rỗi linh hồn là để được ơn tha thứ, thì càng đòi Tông Huấn  phải nói rất rõ ràng là áp dụng cho trường hợp nào, dựa trên nền tảng Kinh Thánh nào, lý do tại sao…
Trong số 84 của Tông Huấn chỉ thấy có hai chỗ nói đến sự cấm cách khá rõ. Thứ nhất là ở đoạn [4], cấm nhận Thánh Thể với câu: "không chấp nhận (non admittendi) cho những tín hữu ly dị tái hôn được hiệp thông Thánh Thể”. Thứ hai, cấm cử hành nghi thức hôn phối với câu: "tất cả mọi chủ chăn, dù bất cứ vì nguyên do nào hay bất cứ vịn cớ gì, ngay cả vì lý do mục vụ, đều không được cử hành bất cứ một thứ nghi thức nào cho những người đã ly dị nay kết hôn lại". Cả hai sự cấm này đều được nêu ra lý do cách rõ ràng. 
Trong khi hai điều cấm trên lại được nói rõ ràng, việc cấm lãnh nhận Bí tích Thống Hối lại chẳng nói rõ, cũng chẳng lý giải gì cả về điều cấm. Vì vậy không thể nào lại kết luận Tông Huấn đã cấm.
 
3.3. Những văn bản Tòa Thánh đều chỉ bàn đến cấm lãnh nhận Thánh Thể
Sau khi Tông Huấn Familiaris Consortio ban hành năm 1981 cho đến Tông Huấn Amoris Laetitia năm 2016, các văn bản liên quan đến việc lãnh nhận bí tích cho người ly dị tái hôn, được chú ý khảo sát phân tích bao gồm:
- "Thư gởi cho các Giám Mục Giáo hội Công Giáo về việc nhận lãnh Thánh Thể bởi những tín hữu ly dị và tái hôn", ngày 14-9-1994, của bộ Giáo Lý Đức Tin, do Đức Hồng y Ratzinger, bộ trưởng ấn ký, vào dịp Năm Quốc Tế Gia Đình.
(http://www.vatican.va/roman_curia/congregations/cfaith/documents/rc_con_cfaith_doc_14091994_rec-holy-comm-by-divorced_it.html)
"Tuyên Bố về việc lãnh nhận Thánh Thể của người ly dị tái hôn", của Ủy Ban Giáo Hoàng về Những Văn Bản Lập Pháp, ngày 24-6-2000 (PONTIFICIO CONSIGLIO PER I TESTI LEGISLATIVI, Dichiarazione circa l’ammissibilità alla santa comunione dei divorziati risposati).
(http://www.vatican.va/roman_curia/pontifical_councils/intrptxt/documents/rc_pc_intrptxt_doc_20000706_declaration_it.html)
- Tông Huấn Sacramentum Caritatis của Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI, ngày 22-2-2007, về Bí Tích Thánh Thể. Tông Huấn có nói đến Bí tích Thánh Thể và sự bất khả phân ly của hôn nhân ở số 29. Số này, gần như nhắc lại Familiaris Consortio 84, chủ ý kêu gọi sự phân định các trường hợp, sự cảm thông nâng nâng đở. Ngài cũng kêu gọi thiết lập tòa án hôn phối để giúp cho những vụ hôn nhân vô hiệu.
Các tài liệu chính thức nói trên đều bàn về việc cấm lãnh nhận "Bí Tích Thánh Thể" đối với người ly dị tái hôn. Vậy cần đặt vấn đề: Nếu đấng có thẩm quyền Giáo huấn có cấm lãnh nhận Bí tích Thống Hối, sao đấng ấy chẳng ra một văn bản chính thức nào nói minh nhiên là cấm và cũng chẳng có văn bản của Tòa Thánh bàn thảo về vấn đề này cho rõ ràng?
Ngay cả trong Tông Huấn về Bí Tích Giải Tội "Hòa Giải và Thống Hối" (Reconciliatio Et Paenitentia) hậu Thượng Hội Đồng Giám Mục, ban hành ngày 2-12-1984 cũng chẳng có chỗ nào nói rằng cấm người ly dị tái hôn không được lãnh nhận Bí Tích Thống Hối. Chỉ trong một đoạn nhỏ, Đức Giáo Hoàng cho biết là ngài đã nói rõ về họ trong tông huấn Familiaris Consortio.
 
3.4. Trong Bộ Giáo Luật chỉ có nói đến cấm lãnh nhận Thánh Thể 
 Bộ Giáo Luật 1983, được ban hành 2 năm sau Tông Huấn Familiaris Consortio. Vào thời gian Thượng Hội Đồng Giám Mục diễn ra năm 1980 và Tông Huấn hậu Thượng Hội Đồng năm 1981 thì Bộ Giáo Luật đang ở thời kỳ duyệt xét lại bản văn sau cùng. Lời dạy của Tông Huấn và Bộ Giáo Luật, tất nhiên phải hòa hợp với nhau. Chúng ta hãy tìm hiểu xem bộ Giáo Luật đã có quy định gì liên quan đến vấn đề đang bàn thảo.
Quyển 4 trong bộ Giáo Luật nói về Nhiệm Vụ Thánh Hóa trong Giáo Hội, phần lớn là đưa ra quy định về Bảy Bí Tích. Bí Tích Thánh Thể được nói ở trong Đề Mục 3, từ điều 897 đến điều 958. Bí Tích Sám Hối được nói ở trong Đề Mục 4, từ điều 959 đến điều 991.
Ngay từ phần đầu nói chung về Bí Tích, Giáo Luật điều 843#1 đã quy định:
"Các thừa tác viên có chức thánh không thể từ chối ban các bí tích cho những người xin lãnh nhận các bí tích cách thích đáng, đã được chuẩn bị đầy đủ và không bị luật cấm lãnh nhận các bí tích." 
Trong đề mục về Bí Tích Thánh Thể, có hai điều cấm:
Điều 915
Những người bị vạ tuyệt thông và những người bị cấm chế sau khi hình phạt đã được tuyên kết hay tuyên bố, cũng như những người ngoan cố sống trong tội trọng tỏ tường, không được rước lễ (CIS 855 ; CIO 712).
Điều 916
Người nào ý thức mình đang mắc tội trọng thì không được cử hành Thánh Lễ và cũng không được rước Mình Thánh Chúa, nếu không nhận lãnh bí tích Sám Hối trước, trừ khi có một lý do nghiêm trọng và không có dịp để xưng tội, trong trường hợp này, người ấy phải nhớ rằng mình phải ăn năn tội cách trọn, trong đó bao gồm việc quyết tâm xưng tội sớm hết sức (CIS 807 ; CIS 856 ; CIO 711).
         Tuy nhiên, trong đề mục về Bí Tích Sám Hối, không thấy có một quy định nào là cấm lãnh nhận Bí Tích này.
Ngược lại, điều 980 quy định về sự sẵn sàng ban Bí Tích, không được trì hoãn:
Nếu cha giải tội không hồ nghi về sự chuẩn bị của hối nhân, và nếu hối nhân xin xưng tội, thì ngài không được từ chối và cũng không được hoãn ban ơn xá giải (CIS 886).
 
4. Đi vào chính văn bản: Khảo sát tổng quát Tông Huấn Familiaris Consortio số 84
 
Số 84 này gồm 8 đoạn:
Đoạn [1]: Đức Giáo Hoàng nêu vấn đề ly dị tái hôn và kêu gọi: "Nên Hội Thánh phải cố gắng không biết mỏi mệt để đem các phương tiện cứu rỗi của mình cho họ sử dụng".
Đoạn [2]: Ngài kêu họi sự phân định các trường hợp ly dị tái hôn khác nhau:
- "những người đã thành tâm cố gắng cứu vãn cuộc hôn nhân thứ nhất nhưng đã bị ruồng bỏ một cách bất công, thì khác hẳn với những người do sai lỗi trầm trọng đã phá huỷ cuộc hôn nhân thành sự theo giáo luật."
- "những người đã lấy một người khác để giáo dục con cái và đôi khi trong lòng cứ chủ quan tin chắc rằng cuộc hôn nhân trước, mà bây giờ đã bị phá huỷ không sao cứu vãn được, xưa nay vẫn không hề thành sự."[1]
Đoạn này kêu gọi sự phân định về tình trạng của họ để nhận ra mức độ nặng nhẹ của "sai lỗi", chứ không đổ đồng tất cả đều là "sai lỗi trầm trọng". Điều này có nghĩa là: có tội ở mức độ nặng nhẹ khác nhau là tùy theo mỗi hoàn cảnh của tội nhân.
Đoạn [3]: Đức Giáo Hoàng kêu gọi giúp đở người ly dị tái hôn.
Đoạn [4]: Ngài xác nhận việc không cho lãnh nhận Thánh Thể là theo tập tục của Hội Thánh và nêu ra lý do của sự cấm này:
"Tuy nhiên, Hội Thánh vẫn nhắc lại tập tục của mình (inculcat consuetudinem suam)đặt trên nền tảngThánh Kinh, không chấp nhận (non admittendicho những tín hữu ly dị tái hôn được hiệp thông Thánh Thể. Họ bị ngăn trở (impediunt) đón  nhận Thánh Thể vì tình trạng của họ và vì điều kiện sống của họ trái ngược khách quan (obiective dissideant) với sự kết hiệp tình yêu (amoris coniunctione) giữa Đức Kitô và Hội Thánh, mà sự kết hiệp này được biểu hiệu (significatur) và thực hiện (peragitur) bởi Thánh Thể. Ngoài ra còn có một lý do mục vụ riêng biệt khác: nếu chấp nhận cho những người ấy được rước lễ, điều đó sẽ dẫn các tín hữu đi tới chỗ lầm lạc và bối rối (errorem turbationemque) về giáo lý của Hội Thánh về sự bất khả phân ly của hôn nhân."
Đoạn này xác định: "không chấp nhận (non admittendi) cho những tín hữu ly dị tái hôn được hiệp thông Thánh Thể", với hai lý do được nêu ra.
Hai lý do được nêu không là lý do "tội nặng" làm xúc phạm đến Thánh Thể, như hầu hết chúng ta vẫn thường nghĩ, nhưng là lý do gây tác hại khách quan: 1- làm tổn hại đến ý nghĩa thần học của sự kết hợp tình yêu giữa Đức Kitô và Hội Thánh và của Thánh Thể; 2- gây lầm lạc và bối rối về giáo thuyết hôn nhân.
- Đoạn [5] bắt đầu bằng câu: "Việc giao hòa trong Bí tích Thống hối – (việc) mà có thể mở đường cho Bí tích Thánh Thể – có thể được ban chỉ cho những người biết hối hận vì đã phạm đến dấu hiệu của Giao ước và của sự trung thành với Đức Kitô…".[2]
Đây chính là câu mở đầu cho một đoạn văn đã gây hiểu lầm là Tông Huấn cấm lãnh nhận Bí Tích Thống Hối, trừ khi ăn năn sám hối và đảm nhận sống tiết dục. Vấn đề như đúng sai như thế nào, sẽ được khảo sát sau.
Thực ra, theo mạch văn, sau khi đã nói đến sự cấm lãnh nhận Thánh Thể, Tông Huấn chỉ ra con đường để có thể nhận Thánh Thể là khi đã "giao hòa" với việc lãnh nhận Bí Tích Thống Hối và đảm nhận sống tiết dục, chứ không hề có ý cấm lãnh nhận Bí Tích Thông hối.
- Đoạn [6] Tông Huấn cấm "tất cả mọi chủ chăn, dù bất cứ vì nguyên do nào hay bất cứ vịn cớ gì, ngay cả vì lý do mục vụ, đều không được cử hành bất cứ một thứ nghi thức nào cho những người đã ly dị nay kết hôn lại". Lý do cấm được đưa ra là: "làm cho người ta có cảm tưởng rằng việc cưới hỏi mới này đã thành sự do một cuộc cử hành bí tích nào đó, và như thế sẽ đưa người ta đến chỗ hiểu sai lạc về sự bất khả phân ly của hôn nhân". Đoạn này có nghĩa là cấm các thừa tác viên cử hành bất cứ nghi thức kết hôn nào cho người tái hôn.
- Đoạn [7] Tông Huấn đưa ra hai lý do của giáo huấn: 1- Hội Thánh tuyên xưng rằng mình trung thành với Đức Ki-tô và với bản chất đích thực của mình; 2- "với một lòng từ mẫu, Hội Thánh cúi mình lo cho con cái, cách riêng là những người con đã bị người phối ngẫu hợp pháp của họ rầy bỏ mà không do lỗi của họ".
- Đoạn [8]: Tông Huấn bày tỏ lòng tin tưởng rằng người đang sống và vẫn tiếp tục sống xa huấn lệnh của Chúa cũng có thể nhận được ơn hoán cải và cứu rỗi nơi Thiên Chúa, nếu họ kiên trì trong kinh nguyện, thống hối và bác ái. Đoạn [8] này cũng cho thấy rằng người dị tái hôn có thể được ơn tha thứ, được ơn cứu rỗi nếu họ hoản cải.
 

5. Đi vào chính câu văn trọng điểm bằng phân tích cú pháp
 
Hãy thử phân tích câu quan trọng nhất mà đã gây hiểu lầm là Tông Huấn cấm Xưng Tội:
  • - Việc giao hòa trong bí tích thống hối – (việc) mà có thể mở đường đến bí tích Thánh Thể – có thể được ban cho chỉ những ai biết hối hận…
  • - Porro reconciliatio in sacramento paenitentiae — quae ad Eucharistiae sacramentum aperit viam — illis unis concedi potest, qui dolentes quod signum violaverint Foederis et fidelitatis Christi, sincere…
(quae là nominative feminine singular của qui, đại diện cho reconciliatiokhông đại diện cho sacramento paenitentiae)
  • - La riconciliazione nel sacramento della penitenza - che aprirebbe la strada al sacramento eucaristico - può essere accordata solo a quelli che, pentiti di… (third-person singular conditional of aprire).
  • - La réconciliation par le sacrement de pénitence - qui ouvrirait la voie au sacrement de l'Eucharistie - ne peut être accordée qu'à ceux qui se sont repentis d'avoir violé le signe de l'Alliance et de la fidélité au Christ, et sont sincèrement …(third-person singular conditional of ouvrir).
  • - Reconciliation in the sacrament of Penance which would open the way to the Eucharist, can only be granted to those who, repenting of having broken the sign of the Covenant and of fidelity to Christ, are sincerely ready to undertake…(would, a modal verb, describe a prediction -hypothetical situations). 
Cần đặt câu hỏi: Đại từ quan hệ - quae, che, que, which được dịch: cái mà, điều mà… thay cho chữ "Việc giao hòa' hay "Bí tích Thống hối"?. Theo văn phạm Latinh thì rõ ràng chữ quae thay cho chữ reconciliatio (quae lànominative feminine singular của qui, thì hợp cas giống số của reconciliatio - nominative feminine singulartrong khi đó sacramento lại là ablative neuter singular).
Mệnh đề "(việcmà có thể mở đường cho Bí tích Thánh Thể" là một mệnh đề phụ, đứng đầu bởi một đại từ quan hệ (relative pronoun), giúp nói rõ ý nghĩa của cụm chủ ngữ đi trước nó: "Việc giao hòa trong bí tích thống hối".
Cũng nên xác định, chủ ngữ của mệnh đề phụ là chứ không phải là "bí tích thống hối".[3] Khi đặt "Việc giao hòa" làm chủ câu văn thì ý nghĩa của nó không chỉ là vấn đề tha tội trọng mà còn rộng lớn hơn. Đó là sự ly dị tái hôn làm tổn hại khách quan đến Hội Thánh, do việc gây hiểu lầm… nên cần giải hòa. "Việc giao hòa", vì vậy, được dùng để cho liên ý với đoạn trên, như Tông Huấn phân định là có trường hợp tội trọng và cũng có trường hợp tội nhẹ hơn.
Mệnh đề phụ đi sau: "(việc) mà có thể mở đường cho bí tích Thánh Thể " có chức năng hạn định rõ ý nghĩa của cụm chủ ngữ đi trước nó: "Việc giao hòa trong Bí tích Thống hối". Lý do là mệnh đề phụ được đứng đầu bằng một đại từ quan hệ thường có vai trò giúp hạn định lại ý nghĩa tổng quát của danh từ trước nó, để định cho nó riêng biệt hơn, và như vậy xác định được danh từ ấy đang được ám chỉ đến ý nghĩa nào. Các đại từ quan hệ trong các bản văn trên là - quae, che, que, which được dịch: cái mà, điều mà, …
Hãy thử xem vài ví dụ:
- Gạo, (che /que/ which/cái mà/ gạo màmà làm bún, chỉ làm được khi  xay nó thành bột và phải ép thành sợi.
Câu trên, nếu được giải thích là hễ là gạo dùng được chỉ khi nó được xay thành bột và phải được máy ép thành sợi, thì là một sai lầm.Vì rõ ràng là câu này không hề chỉ định đến gạo một cách tổng quát hay gạo nói chung nhưng hạn định lại là khi làm ra bún.
Chúng ta có thể lấy thêm các ví dụ khác:
- Cây gỗ,(which/cái mà ) để làm cột nhà, chỉ được dùng khi nó to và tròn…
Ở đây không có ý nói đến cây gỗ nói chung, nhưng hạn hẹp vào gỗ để làm cột nhà. Khi đó nó mới cần to và tròn.
- Linh mục, (mà) dạy trong Đại Chủng Viện, cần phải có thanh danh và có bằng cử nhân hay tiến sĩ thần học.
Rõ ràng là sự hiện diện của mệnh đề phụ "dạy trong Đại Chủng Việnđã hạn định ý nghĩa của từ "linh mục" đi trước nó. Không thể hiểu: tất cả các linh mục đều phải có thanh danh và có bằng cử nhân hay tiến sĩ thần học.
Khi bỏ đi mệnh đề phụ thì sẽ thấy ý nghĩa thay đổi khác hẳn đi: Linh mục cần phải có thanh danh và có bằng cử nhân hay tiến sĩ thần học.
Từ sự phân tích trên rồi so sánh hai câu sau sẽ thấy sự khác biệt rõ ràng giữa hai câu sau:
- Việc giao hòa trong Bí tích Thống hối – (việc) mà mở đường cho Bí tích Thánh Thể – chỉ có thể được ban cho những người biết hối hận…
- Việc giao hòa trong Bí tích Thống hối chỉ có thể được ban cho những người biết hối hận…
Chỉ có câu sau mới cấm hay hạn chế "Việc giao hòa trong Bí tích thống hối", nhưng câu đầu chỉ cấm hay hạn chế việc này khi nó "mở đường cho Bí tích Thánh Thể"
Như vậy, câu văn trong Tông Huấn số 84 đã không có ý nói đến "Việc giao hòa bằng Bí tích Thống hối" hay "Bí tích Thống hối" một cách chung hay tổng quát nhưng chỉ nói đến trong một hạn định là để lãnh nhận Bí tích Thánh Thể.
 

6. Hiểu đoạn văn một cách chính thức từ thẩm quyền Hội Thánh
 

Trong chính "Thư gởi cho các Giám Mục Giáo hội Công Giáo về việc nhận lãnh Thánh Thể bởi những tín hữu ly dị và tái hôn" đã nói, Đức Hồng y Ratzinger, bộ trưởng bộ GLĐT đã viết lại câu chủ chốt trên. Hãy quan sát sự song đối của hai đoạn văn sau để thấy cách hiểu của ngài.
 
 
Gioan Phaolo II, Th. Familiaris Consortio, 22-11-1981, số 84.
 
Bộ GLĐT - Ratzinger, Thư gởi cho các Giám Mục Giáo Hội Công Giáo về việc nhận lãnh Thánh Thể bởi những tín hữu ly dị và tái hôn, 14-9-1994.
La riconciliazione nel sacramento della penitenza - che aprirebbe la strada al sacramento eucaristico - può essere accordata solo a quelliche, pentiti
 
Per i fedeli che permangono in tale situazione matrimoniale, l'accesso alla Comunione eucaristica è aperto unicamente dall'assoluzione sacramentale, che può essere data «solo a quelli che, pentiti …[4]
 
Việc giao hòa trong Bí tích Thống hối – (việc) mà mở đường cho bí tích Thánh Thể – có thể được bancho chỉ những ai biết hối hận vì đã phạm đến dấu hiệu của Giao ước và của sự trung thành với Đức Kitô, và thành thật sn lòng chấp nhận một hình thức sống không còn mâu thuẫn với sự bất khả phân ly của hôn nhân nữa. Nói như thế là mặc nhiên cho rằng, khi có những lý do hệ trọng – chẳng hạn để làm gương và giáo dục con cái – người nam và người nữ không thể xa lìa nhau như luật buộc, thì “họ có thể đảm nhận sống tiết dục hòan toàn, nghĩa là tránh hẳn những hành vi dành riêng cho vợ chồng.
Đối với những tín hữu vẫn cứ ở trong tình trạng hôn nhân như thế, con đường đến lãnh nhận Thánh Thể chỉ được mở ra từ sự xá giải bí tích, có thể được ban cho "chỉ những aibiết hối hận vì đã phạm đến dấu hiệu của Giao ước và của sự trung thành với Đức Kitô, và thành thật sẵn lòng chấp nhận một hình thức sống không còn mâu thuẫn với sự bất khả phân ly của hôn nhân nữa. Nói như thế là mặc nhiên cho rằng, khi có những lý do hệ trọng – chẳng hạn để làm gương và giáo dục con cái – người nam và người nữ không thể xa lìa nhau như luật buộc, thì “họ có thể đảm nhận sống tiết dục hòan toàn nghĩa là tránh hẳn những hành vi dành riêng cho vợ chồng” (FC, 84).
Đức Hồng y Ratzinger, đã trích nguyên văn đoạn cuối số 84 của Tông Huấn ở phần sau và đã mở đầu bằng câu:
"Đối với những tín hữu vẫn cứ ở trong tình trạng hôn nhân như thế, con đường đến lãnh nhận Thánh Thể chỉ được mở ra từ sự xá giải bí tích, có thể được ban cho "chỉ những ai biết hối hận…"
Ngài dùng nó để diễn đạt thay cho câu: "Việc giao hòa trong Bí tích Thống hối – (việc) mà mở đường cho bí tích Thánh Thể – có thể được ban cho chỉ những ai biết hối hận…"
Đức Hồng Y đã thay chủ từ câu văn "Việc giao hòa trong bí tích thống hối" bằng "con đường đến lãnh nhận Thánh Thể", để dẫn đầu cho một đoạn văn, làm cho câu văn được dễ hiểu.
Đoạn này, vì thế, là một chỉ dẫn cho một sự được phép lãnh nhận Thánh Thể trong một hạn định. Đó là lãnh nhận Bí Tích Thống hối với tâm tình sám hối ăn năn và có quyết tâm sống tiết dục. Nói cách khác, chủ đề chính của đoạn văn là đưa ra một phương thế để có thể được lãnh nhận Bí Tích Thánh Thể nhờ bởi xưng tội và sống tiết dục, chứ không phải là đưa ra một phương thế để lãnh Bí Tích Thống Hối. Vì vậy đoạn văn này không hề đưa ra điều kiện tiết dục để được xưng tội nói chung.
 

7- Không đòi hỏi điều kiện hoàn toàn tiết dục khi lãnh nhận Bí Tích Giải Tội
 
Sẽ có nghi vấn: Tại sao Hội Thánh không đòi là phải cam kết tiết dục mới được xưng tội, như đã đòi hỏi về việc lãnh nhận Thánh Thể đối với người ly dị tái hôn?
 
a- Lý do đòi phải tiết dục hoàn toàn khi muốn lãnh nhận Thánh Thể
Trước hết hãy tìm hiểu lý do về việc cấm lãnh nhận Thánh Thể, đưa ra bởi Tông Huấn:
Họ bị ngăn trở (impediunt) đón  nhận Thánh Thể vì tình trạng của họ và vì điều kiện sống của h
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 4 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 
Tin Giáo phận