THỨ TƯ TUẦN III PHỤC SINH NĂM A

Ga 6,35-40

 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

35 Khi ấy, Chúa Giêsu phán với đám đông rằng: “Chính Ta là bánh ban sự sống. Ai đến với Ta, sẽ không hề đói; ai tin vào Ta, sẽ không hề khát bao giờ.

36 Nhưng Ta đã bảo các ngươi rằng: Các ngươi đã thấy Ta, nhưng các ngươi không chịu tin. 37 Những ai Cha đã ban cho Ta sẽ đến với Ta. Và ai đến với Ta, Ta sẽ không xua đuổi ra ngoài.

38 Bởi vì Ta từ trời xuống không phải để làm theo ý Ta, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai Ta. 39 Vậy ý của Cha, Đấng đã sai Ta, là hễ sự gì Người đã ban cho Ta, Ta chẳng để mất, nhưng ngày sau hết, Ta sẽ cho nó sống lại.

40 Quả vậy, ý của Cha Ta là hễ ai thấy Con và tin vào Người thì có sự sống đời đời”.

SUY NIỆM 1: SỐNG ĐỜI SỐNG YÊU THƯƠNG, KHÔNG LOẠI TRỪ

Có một định luật trong đời rằng: mục đích của khó khăn là để chứng tỏ sức mạnh. Có thể chúng ta đã chứng kiến một mầm cây mọc lên; nếu chúng ta lấy một cái gì đè lên nó, nó sẽ tìm cách len li và vươn lên. Một con vật cũng thế, khi nó muốn một cái gì, nó không bao giờ bỏ cuộc, dù có khó khăn như thế nào. Nó chỉ bỏ cuộc khi sự vật đó không còn hiện hữu. Định luật này cũng xảy ra trong đời sống con người. Khó khăn xảy ra không phải để làm chúng ta nản chí và bỏ cuộc. Mục đích của khó khăn là tôi luyện chúng ta về đức kiên nhẫn và hy vọng, làm cho chúng ta sáng tạo hơn và thử thách sự trung thành của chúng ta. Một người bỏ cuộc khi gặp khó khăn thì người đó chứng tỏ mình chỉ sống theo nguyên tắc: “thuận theo chiều gió” [gió thổi chiều nào, tôi theo chiều đó].

Bài đọc 1 hôm nay trình bày cho chúng ta về hoàn cảnh của Hội Thánh Tiên Khởi ở Giêrusalem bị bắt bớ. Việc bắt bớ này đã không làm các Tông Đồ bỏ cuộc, nhưng trở nên sáng tạo hơn trong việc rao giảng của mình. Các Ngài không còn nhóm họp một ch như trước, nhưng tản mác về các vùng quê (x. Cv 8:1b). Chính điều này, các Tông Đồ mới dần hiểu được mệnh lệnh của Chúa Giêsu: hãy đi khắp nơi mà rao giảng cho muôn người. Nhìn tứ khía cạnh này, chúng ta có thể nói rằng: Thiên Chúa có thể dùng hoặc cho phép những khó khăn xảy ra để kế hoạch của Ngài cho chúng ta được thực hiện.

Hình ảnh của Saolô mà chúng ta nghe trong câu cuối cùng của bài đọc 1 hôm qua càng ngày càng trở nên đáng sợ hơn cho các tin hữu: “Còn ông Saolô thì cứ phá hoại Hội Thánh: ông đến từng nhà, lôi cả đàn ông lẫn đàn bà đi tống ngục” (Cv 8:3). Vì sự phá hoại Hội Thánh của Phaolô làm cho các Tông Đồ “phải tản mác này đi khắp nơi loan báo lời Chúa” (Cv 8:4). Điều này lặp lại tư tưởng chúng ta vừa đề cập ở trên: Thiên Chúa có thể mang lại những điều tốt lành từ những “sự dữ” mà con người tạo ra. Chi tiết này giúp chúng ta vững tin và có cái nhìn lc quan trước những khó khăn và đau khổ người khác tạo ra cho mình: Đối với con người thì không thể, nhưng đối với Thiên Chúa, mọi sự đều có thể” (Mt 19:26).

Trong số các Tông Đồ, Thánh Philiphê, được kể đếnlà người đầu tiên thực hành sứ vụ rao giảng ở một thành miền Samaria. Thánh nhân không chỉ rao giảng Đức Kitô bằng lời, nhưng còn bằng những dấu lạ kèm theo. Những dấu lạ thánh nhân thực hiện là những điều Chúa Giêsu đã thực hiện trong cuộc đời sứ vụ của Ngài, đó là trừ quỷ và chữa bệnh: “Thật vậy, các thần ô uế vừa kêu lớn tiếng vừa xuất khỏi nhiều người trong số những kẻ bị chúng ám. Nhiều người tê bại và tàn tật được chữa lành” (Cv 7:7). Chính đời sống chứng tá và rao giảng bằng lời và hành động này làm cho “trong thành, người ta rất vui mừng” (Cv 7:8). Về phần chúng ta, những lời nói và hành động trong ngày sống của chúng ta có mang lại niềm vui cho người khác không?

Câu mở đầu của bài Tin Mừng hôm nay lặp lại câu kết của bài Tin Mừng hôm qua để nói lên việc Chúa Giêsu chính “là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ (Ga 6:35). Nhưng người Do Thái không tin dù đã thấy dấu lạ Ngài thực hiện. Không chỉ thấy dấu lạ, họ con nhìn thấy Đấng làm dấu lạ mà vẫn không tin. Điều này đôi khi cũng xảy ra trong ngày sống của chúng ta. Chúng ta đã chứng kiến nhiều dấu lạ Chúa thực hiện, nhưng chúng ta không chỉ không tin vào dấu lạ mà còn không tin vào Đấng thực hiện dấu lạ đó.

Điều đầu tiên chúng ta cần suy gẫm là tâm tình đầy yêu thương của Chúa dành cho mỗi người trong chúng ta, những con người yếu đuối tội lỗi, khi đến với Ngài: “Tất cả những người Chúa Cha ban cho tôi đều sẽ đến với tôi, và ai đến với tôi, tôi sẽ không loại ra ngoài, vì tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi” (Ga 6:37-38). Những lời đáng để chúng ta suy gẫm là: “ai đến với tôi, tôi sẽ không loại ra ngoài.” Chúng ta phải thú nhận rằng, nhiều lần trong cuộc sống, chúng ta đã không đón tiếp anh chị em của mình khi họ đến với chúng ta. Chúng ta loại trừ họ ra khỏi con tim và cuộc sống của mình khi họ làm chúng ta tổn thương hoặc khi họ không thuộc về “những người chúng ta tuyển chọn.” Chúa Giêsu nêu gương cho chúng ta. Ngài không loại trừ một ai. Ngài đón tiếp từ người giàu đến người nghèo, từ người có học thức đến người thất học, từ người có địa vị cho đến người không có tiếng nói trong xã hội, từ người cùng quê hương của mình đến những người ngoại tộc. Ngài đón tiếp hết mọi người, quan tâm đến nhu cầu của họ và làm những gì tốt nhất cho họ. Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta nhìn lại con tim và cách đối xử của mình với người khác: hãy đón tiếp mọi người như Chúa Giêsu hằng đón tiếp chúng ta ngay cả khi chúng ta phạm tội và trở về với Ngài.

Sống trong xã hội bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa cá nhân, chúng ta thường đề cao ý riêng của mình. Chúng ta thường cảm thấy mất tự do khi phải làm theo mệnh lệnh [ý] của người khác; nếu có làm theo, chúng ta thường cảm thấy khó chịu và nặng nề. Một trong những điều trái ngược là ai trong chúng cũng muốn đi tìm thánh ý Thiên Chúa để thực hiện. Nhưng khi thánh ý Thiên Chúa được tỏ hiện và dường như “ngược” với điều chúng ta muốn, chúng ta trở nên chống đối và mất niềm tin. Chúng ta tìm đủ mọi cách để biện minh và giải thích theo ý mình về thánh ý Chúa.

Điểm cuối cùng chúng ta suy gẫm trong bài Tin Mừng hôm nay là việc Chúa Giêsu trình bày cho chúng ta ý của Chúa Cha là gì: Mà ý của Đấng đã sai tôi là tất cả những kẻ Người đã ban cho tôi, tôi sẽ không để mất một ai, nhưng sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết. Thật vậy, ý của Cha tôi là tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết” (Ga 6:39-40). T những lời này, Chúa Giêsu cho chúng ta biết thánh ý của Chúa Cha là chúng ta “không bị vuột mất khỏi vòng tay yêu thương của Chúa Giêsu.” Chúa Cha muốn tất cả chúng ta được cứu độ, được sống lại trong ngày sau hết. Tuy nhiên, Chúa Giêsu cũng giải thích thêm: để đạt được sự sống đời đời hay không phải hư mất đi, chúng ta phải tin vào Ngài sau khi đã “thấy” Ngài. Như vậy, vấn đề quan trọng ở đây không phải là nhìn thấy dấu lạ mà “nhìn thấy Đấng làm dấu lạ” và tin vào Ngài.

Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB

SUY NIỆM 2: BÁNH TRƯỜNG SINH – LỜI MỜI GỌI ĐẾN VÀ TIN

Ánh bình minh vừa nhuộm sáng bờ hồ Tibêria, Đức Giêsu ngước nhìn đám người vây quanh và cất tiếng: “Chính Ta là bánh ban sự sống; ai đến với Ta sẽ không hề đói, ai tin vào Ta sẽ không hề khát bao giờ.” Lời khẳng định thật dứt khoát, nhưng cũng chan chứa dịu dàng của một Thiên Chúa muốn ôm cơn đói khát sâu nhất của phận người vào trái tim Ngài. Thế rồi, như đọc được hoài nghi ẩn sau ánh mắt, Ngài chặn lại: “Ta đã bảo các ngươi rằng các ngươi đã thấy Ta mà không tin.” Niềm day dứt ấy của Đức Giêsu xuyên qua hai mươi thế kỷ, khiến phụng vụ hôm nay trở nên cuộc hẹn riêng với mỗi tín hữu: ta đã thấy, đã được nuôi, vậy ta có dám tin không?

Đức Giêsu không dùng biểu tượng “vua”, “thầy thuốc” hay “hiền triết” mà chọn “bánh” để tỏ mình. Bánh là thứ bình dân bậc nhất: ai cũng cần, ai cũng chạm, ai cũng hiểu. Bánh không được trưng bày, nhưng được bẻ ra, nhai nát, hoà vào máu thịt kẻ dùng. Khi gọi mình là Bánh, Ngài tự nguyện đi vào vòng đời mong manh: bị nghiền, bị tan, bị tiêu hao, chỉ cốt cho người khác được sống. Đó là chân dung Đấng Cứu Thế: không đứng xa ban phát, nhưng cúi xuống làm lương thực, trao hết, thậm chí để bị quên lãng dưới lớp bình thường. Ai “đến” với Giêsu là bước vào tương quan gần gũi, cho phép Ngài nuôi dưỡng; ai “tin” Ngài là mở cửa tim đón dòng dưỡng chất thần linh chảy vào từng sợi thần kinh, từng chọn lựa và ước ao.

Tuy vậy, hệt như hôm xưa, chúng ta dễ rơi vào nghịch lý: càng nghe nhiều, càng thấy nhiều, lại càng ngại đặt cược cuộc đời. Đức Giêsu mặc khải nguyên do sâu xa: lòng tin không phải sản phẩm của suy luận đơn thuần, nhưng là quà tặng của Cha. “Những ai Cha đã ban cho Ta sẽ đến với Ta.” Nói cách khác, khi ta nhen khát khao tìm kiếm, chính Cha đã âm thầm dẫn tay ta tới Núi Thánh; khi ta bật khóc trước tấm bánh trắng đơn sơ, chính Cha đã chạm để ta nhận ra ân tình. Cảm thức ấy giục ta khiêm tốn tạ ơn mỗi giây phút đức tin sống động và thôi thúc ta cầu nguyện cho những anh chị em còn xa bàn tiệc Thánh Thể.

“Và ai đến với Ta, Ta sẽ không xua đuổi ra ngoài.” Một lời bảo đảm đẹp như vầng trăng rằm. Trong thế giới sàng lọc khách hàng theo điểm tín dụng, loại trừ người yếu thế ra khỏi vòng phát triển, thì nơi Đức Giêsu không hề có “bài kiểm tra đầu vào.” Mục đồng Bêlem, người phụ nữ Samari, thu thuế Giakêu, kẻ trộm lành trên đồi Sọ… hết thảy đã kinh nghiệm lòng hiếu khách không ranh giới đó. Lắm khi chính ta tự nhốt mình bên ngoài vì mặc cảm tội lỗi, vì thất bại lặp lại, vì vết thương chưa lành; nhưng Thầy không bỏ cuộc, Thầy vẫn kiên nhẫn đứng ở cửa, gõ. Câu nói “không xua đuổi” cũng trao cho Hội Thánh nhiệm vụ nghiêm túc: bất cứ mục tử nào nhân danh Đức Kitô cũng không được phép xô đẩy ai ra vùng rìa – nhất là người nghèo, người lạc lối, người vấp ngã.

“Bởi vì Ta từ trời xuống không phải để làm theo ý Ta, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai Ta.” Ý Cha được vạch rõ thêm: “hễ sự gì Người trao, Ta chẳng để mất, nhưng ngày sau hết Ta sẽ cho sống lại.” Ở đây hé lộ chân trời vượt khỏi mọi no đủ trần gian: cứu độ không dừng ở hôm nay ấm bụng hay mai tài khoản dồi dào, mà đạt tới cuộc phục sinh muôn thuở. Để nâng chúng ta lên tầm vóc vĩnh cửu ấy, Con Thiên Chúa đã hạ mình ngang thân phận bánh, chấp nhận tan vỡ, chịu đóng đinh, rồi bừng dậy sáng láng. Đối diện mầu nhiệm ấy, người tín hữu học bài học của bột mì: muốn thành bánh phải chịu nghiền; của men: muốn dậy bột phải chịu khuất; của bánh: muốn nuôi đời phải chấp nhận bị bẻ. Người cha đổ mồ hôi nuôi con, người mẹ thức trắng chăm bệnh, linh mục hao mòn thời gian toà giải tội, bạn trẻ chia bớt thu nhập giúp bạn nghèo – đó là những tấm bánh ẩn, bẻ ra hàng ngày giữa đời thường.

“Ý của Cha Ta là: ai thấy Con và tin vào Con thì có sự sống đời đời.” “Thấy” ở đây vượt hơn nhìn bằng mắt; đó là cái thấy của kẻ để tim chạm vào Con, thấy bằng sự thấu hiểu, quý mến, gắn bó. Thấy như Phêrô quỵ xuống sau mẻ cá lạ, như Maria Magdala gọi “Rabboni” giữa vườn sáng Phục Sinh. Mỗi Thánh Lễ, linh mục nâng cao Thánh Thể và xướng “Này Chiên Thiên Chúa,” là lúc Hội Thánh trao cơ hội “thấy” ấy. Thấy để tin, tin để sống, sống để chia sẻ: lộ trình hiệp thông dệt nên căn tính Kitô hữu.

Trên quê hương chúng ta, bao vùng nông thôn vẫn nghèo nước sạch, trẻ suy dinh dưỡng; thành phố thì chen vai cạnh tranh, áp lực thành công làm khô khốc tình thân. Chính trong bối cảnh ấy, Đức Giêsu mời cộng đoàn trở nên “điểm phân phối Bánh Sự Sống”: giáo xứ thành lò bánh bác ái, mỗi gia đình thành bàn tiệc hiếu khách, mỗi tín hữu thành mẩu bánh nhỏ mang hương tha thứ và hy vọng. Một cử chỉ công bằng nơi công sở, một quyết định không ăn hoa hồng bẩn, một buổi dạy kèm miễn phí, một nồi cháo tình thương… đều là men phục sinh đang nở, báo trước bữa tiệc muôn đời.

Sau cùng, lời Đức Giêsu vén mở động cơ thẳm sâu của đời Kitô hữu: làm theo ý Cha. Ở Giêsu, ta gặp một Trái Tim không giữ gì cho mình: Ngài sinh ra để chu toàn ý muốn Đấng Sai. Và ý muốn ấy đẹp tuyệt: không để ai hư mất. Khi hiệp lễ, ta cầm lấy Bánh Trường Sinh cũng là cầm lấy sứ mạng: lệ thuộc trọn vẹn vào Cha, chuyên chú vào phần rỗi anh em. Nhờ vậy, chiếc cầu nối trời đất tiếp tục được xây qua mọi thời: Cha trao nhân loại cho Con, Con trao Hội Thánh cho Cha, Hội Thánh trao bánh cho thế gian, và thế gian tìm gặp Cha nơi Con trong cuộc hiện diện nhiệm mầu của Thánh Thể.

Lạy Bánh Trường Sinh, sáng hôm nay con đến đây tay còn ướt mồ hôi mưu sinh, tim còn trĩu ưu lo, trí còn đầy dữ kiện chao đảo; nhưng con tin chỉ một tấm bánh bé nhỏ cũng đủ dựng trong con bầu trời bình an. Xin gieo vào lòng con xác tín: ai đến với Ngài sẽ không bị xua đuổi, ai tin Ngài sẽ không khát bao giờ. Xin uốn lòng con theo ý Cha; đừng để con đánh mất bất cứ anh chị em nào Cha gởi gắm, nhưng biết kiên nhẫn nâng họ dậy bằng sự dịu dàng của Phúc Âm. Và khi khép lại ngày tháng dương thế, xin cho con được thấy Con và tin trọn vẹn, để hòa vào đoàn người Cha đã hứa cho sống lại trong ngày sau hết, ca khúc tạ ơn không cùng: “Bánh Trường Sinh đã vỡ tan nhưng nuôi sống, chết đã bị đánh bại, tình yêu muôn đời chiến thắng.” Amen.

Lm. Anmai, CSsR

SUY NIỆM 3: CHÚA GIÊSU LÀ BÁNH BAN SỰ SỐNG

A- Phân tích (Hạt giống...)

Nhắc lại bài Phúc Âm hôm qua: nghe Chúa Giêsu nói tới một thứ lương thực quý trọng hơn cả Manna ngày xưa nữa, dân Do Thái tưởng đó là thứ thức ăn đặc biệt no lâu nên xin Chúa ban cho họ thứ thức ăn đó mãi.

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu nói với họ rằng “Chính Ta là bánh ban sự sống”.

Chúa Giêsu trở thành Bánh Sự Sống cho loài người thế nào ?

Khi người ta đến với Ngài: “Ai đến với Ta, sẽ không hề đói”.

Khi người ta tin vào Ngài: “Ai tin vào Ta, sẽ không hề khát bao giờ”.

Thực ra theo luật của cú pháp sóng đôi, “Đến với” và “Tin vào” không phải là hai việc khác nhau mà chỉ là hai cách diễn tả cùng một sự việc: Tin vào Chúa Giêsu, thể hiện ở thái độ đến với Ngài. Kết quả của công việc đó là không hề đói không hề khát.

B- Suy gẫm (...nẩy mầm)

1. Đức tin vào Chúa Giêsu phải thể hiện vào việc đến với Ngài. Một ngày tôi dành bao nhiêu thời gian để “đến với” Chúa.

2. Chúng ta “đến với” Chúa bằng nhiều cách: tưởng nhớ, cầu nguyện, suy gẫm, và nhất là tham dự Thánh Lễ. Hãy xét mình xem khi chúng ta làm những việc trên, lòng chúng ta có thực sự “đến với” Chúa không ?

3. Khi tâm hồn tôi cảm thấy đói khát, tôi đã “đến với” ai, với cái gì ? Có “đến với” Chúa không ?

4. Buổi sáng bà lão ra ngoài. Buổi chiều bà trở về, bà không tìm thấy chìa khóa.

Không biết làm thế nào ?! Bà chạy sang hàng xóm, mượn chìa khóa của họ mở thử, chẳng có cái nào hợp.

Cuối cùng một người góp ý: cứ mở then cài ra xem sao! Bà mở then và cánh cửa mở toang. Thì ra khi đi ra bà không khóa cửa.

Câu chuyện trên mô tả phần nào thái độ của chúng ta trước Chúa. Ta đứng ngoài, lòng đầy băn khoăn lo sợ. Ta nghĩ phải làm việc này việc nọ mới đáng đến với Chúa. Trong khi đó, cánh cửa nhà Chúa luôn mở rộng và ưu ái đón ta vào. (Góp nhặt)

5. “Vậy ý của Cha, Đấng đã sai Ta, là hễ sự gì Người đã ban cho Ta, Ta chẳng để mất”.

…Chúa Giêsu và Hội Thánh bấy giờ xuất hiện với tôi như một cái gì khô cứng, sự khô cứng của những khái niệm thần học, những bổn phận “phải” làm hơn là một tình yêu thiết tha tung cánh… Rồi chẳng biết từ đâu, Triết lý phương Đông và Phật Giáo len lỏi vào tâm hồn tôi, phất phơ nhẹ nhàng nhưng sao có sức giật tung những gì tôi mòn mỏi. Tôi nằng nặc đòi nhà Dòng một năm phép, cho ra độc cư trên núi, sống với nắng, gió, mưa, đói, khát, và sự sợ hãi nữa. Nhưng mỗi lần tôi nhất tâm thất niệm thì vấn đề về Chúa Giêsu lại vang lên, đeo bám tôi mãi… Một năm phép đã hết, thân tàn ma dại, tôi thua cuộc, trở về nhà Dòng một cách trắng tay. Nhưng Chúa Giêsu vẫn cứ đeo bám tôi mãi. Đang trong một năm nổi loạn, thất bại và hư hỏng cùng cực đó, tôi được gọi làm linh mục. Hoang mang và sợ hãi, tâm hồn rối bời, tan nát, tôi vào ngồi thẫn thờ trong nhà nguyện như sự đay nghiến, một sự nức nở và đền tội…

Một đêm trước khi làm linh mục vài hôm, tôi thử tiến lên đứng sát Nhà Tạm Thánh Thể. Có cái gì đó khác hơn là cảm giác, hơn cả sự rung động, mà là sự bao phủ lấy toàn bộ cuộc đời và con người tôi. Ngay giây phút đó, tôi “hiểu” rằng cho dù có là hòn đá hòn sỏi, dù tôi đã lấm bùn bê bết, dù tôi đã thân tàn ma dại, dù tôi đã hỏng hết cả cuộc đời, thì Chúa Giêsu vẫn gọi và chọn tôi, làm tâm hồn tôi bừng sáng huy hoàng. Và tôi gọi Ngài là Chúa, Cứu Chúa của đời tôi…

Lạy Chúa, chứng từ này giúp con nghiệm ra rằng, dù phận hèn yếu đuối đến đâu, con vẫn được Ngài yêu thương vì Ngài là Đấng khoan dung bền vững muôn đời. (Epphata)

Lm. Carôlô Hồ Bạc Xái

 

SUY NIỆM 4: CHÚA GIÊSU VỊ THẦY DUY NHẤT

1. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu quả quyết: “Chính Ta là bánh ban sự sống. Ai đến với Ta sẽ không hề đói. Ai tin vào Ta sẽ không hề khát bao giờ” (Ga 6,35).

Đức tin vào Chúa Giêsu phải thể hiện qua việc đến với Ngài. Đó là điều kiện tiên quyết để được hạnh phúc, được sống đời đời. Nhưng như thánh Phaolô nói: Làm sao tin được, nếu không được nghe; làm sao nghe được, nếu không có người rao giảng; và làm sao rao giảng, nếu không được sai đi (Rm 10,14). Tất cả những ai tin Chúa, thì cũng ý thức sứ mạng được sai đi để nói về Chúa cho người khác, nhờ đó họ mới có thể đến với Chúa và tin vào Chúa. Cộng đoàn Giáo Hội tiên khởi đã ý thức về sứ mạng đó, cho nên đi tới đâu, họ cũng rao giảng cho người khác biết về Chúa. Khi nói về sinh hoạt của Giáo Hội tiên khởi, các sử gia cho rằng, sở dĩ người Kitô hữu đem lại nhiều thành quả tốt đẹp, là vì họ không truyền bá Tin Mừng bằng sách vở, mà là bằng đời sống gương mẫu của họ.

2. Tuy nhiên, không phải chỉ có việc tin vào Chúa, mà còn phải lãnh nhận Mình Máu Chúa. Đây là điều không dễ chấp nhận trên bình diện nhân loại, nhưng Chúa Giêsu đã mạc khải sự thật này.

“Ý của Đấng đã sai tôi là tất cả những kẻ người đã ban cho tôi, tôi sẽ không để mất một ai” (Ga 6,39).

Cha Matthêô, vị tông đồ của Phong trào tôn kính Thánh Tâm Chúa Giêsu trong các gia đình, thuật lại một câu chuyện đã xảy ra trong cuộc đời của mình:

Tôi ở Lộ Đức, khi vừa giảng xong tôi bước xuống khỏi hang đá, khá mệt. Một nông dân tiến lại gần, cầm tay tôi và nói:

- Có phải cha là người vừa giảng ở Vương Cung Thánh đường không ?

- Vâng!

- Ồ quí hóa quá. Từ nhiều năm nay con vẫn dâng việc rước lễ hàng ngày và giờ thờ lạy Mình Thánh Chúa mỗi tuần của con, để xin Trái Tim Chúa ngự trị trong mọi gia đình, và cha vừa giảng với mục đích ấy.

Tôi nói với ông:

- Hãy đến khách sạn với tôi. Chúng ta sẽ nói chuyện lâu dài với nhau.

- Đến khách sạn với cha ư ? Thưa cha không thể được, vì con còn có xe bò. Con không thể để xe và các con bò ở đây để đến với cha ngay được.

- Vậy tối nay, 8 giờ đến nhé.

- Tối nay, 8 giờ. Dạ, được.

Ông ta đến và chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau đến nửa đêm. Người nông dân nói chuyện như một nhà thần học có tầm cỡ. Cuối cùng, tôi nói với ông:

- Ông muốn trở thành bạn của tôi không ?

- Thưa cha, muốn lắm chớ.

- Vậy các người bạn thường viết thư cho nhau, ông nhớ viết thư cho tôi nhé.

Bác nông dân lắc đầu lia lịa:

-Thưa cha, con không biết đọc và biết viết.

Tôi ngạc nhiên hỏi:

- Vậy ông học ở đâu được tất cả những gì ông vừa nói với tôi thế ?

Đến lượt ông ngạc nhiên:

- Ở đâu ư ? Cha hỏi con học ở đâu khi mỗi ngày cha đều dâng lễ. Ở bên Người, bên Chúa, chính Người là vị thầy duy nhất của con.

Và đây là trang nhật ký của một Linh mục:

“…Đức Giêsu và Hội Thánh bấy giờ xuất hiện với tôi như một cái gì thật khô cứng, sự khô cứng của những khái niệm thần học, những bổn phận “phải” làm hơn là một tình yêu thiết tha tung cánh…Rồi chẳng biết từ đâu, Triết Đông và Phật Giáo len lỏi vào tâm hồn tôi, phất phơ nhẹ nhàng nhưng nó lại có sức giật tung những gì mòn mỏi trong lòng tôi. Tôi nằng nặc đòi nhà dòng cho tôi được ra ở một mình trên núi, sống với nắng, với gió mưa, với đói khát, và với cả sợ hãi nữa. Nhưng mỗi lần tôi để tâm suy, trí niệm thì vấn đề Đức Giêsu lại vang lên, đeo bám mãi. Sau một năm, tôi hết phép. Với thân tàn ma dại, tôi thua cuộc, lại mò về nhà dòng hoàn toàn tay trắng! Nhưng Chúa Giêsu cứ đeo bám tôi mãi. Một năm trời nổi loạn, thất bại đã trôi qua và kể như trắng tay, tôi được bề trên gọi làm …Linh mục. Hoang mang và sợ hãi, tâm hồn rối bời, tan nát, tôi vào ngồi bất động trong nhà nguyện trầm lặng nhưng lòng như bị đay nghiến, như một mất mát đòi tôi phải đền bù.

Một đêm trước khi làm Linh mục vài hôm, tôi thử tiến lên đứng sát nhà chầu. Có cái gì đó hơn là một cảm giác, hơn là một sự rung động, phủ chụp lấy toàn bộ cuộc đời và con người tôi. Ngay giây phút đó, tôi hiểu rằng, cho dù có là hòn đá, hòn sỏi, dù tôi có là con người bê bết lấm bùn, thân tàn ma dại, dù đã làm hỏng cả cuộc đời, thì Đức Giêsu vẫn gọi và chọn tôi. Việc đó làm cho tâm hồn tôi bừng sáng lên huy hoàng. Và tôi gọi Ngài là Chúa, Cứu Chúa cuộc đời của tôi…

Lạy Chúa, chứng từ này giúp con nghiệm ra rằng, dù phận hèn yếu đuối đến đâu, con vẫn được Ngài yêu thương và Ngài khoan dung bền vững muôn đời. (Epphata).

 Lm Giuse Đinh Tất Quý

 

SUY NIỆM 5: TIN CHÚA THÌ CÓ SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI

Chúa làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi dân chúng theo nghe Chúa rao giảng Tin Mừng và Chúa còn làm các phép lạ cứu chữa những người bệnh tật ốm đau (Ga 6, 1 – 15), do đó, Chúalà Đấng nuôi dân về phần xác, để rồi từ của ăn về phần xác này, Chúa hướng con người chúng ta đến việc Chúa chính là bánh ban sự sống: (Ga 6, 35a). Chúa là bánh ban sự sống, Chúa làm được điều này, vì như Lời Chúa trong Thánh Vịnh diễn tả: “Người biến bể khơi thành nơi khô cạn, người ta đã đi bộ tiến qua sông, bởi đó ta hãy hân hoan trong Chúa! Với quyền năng Người thống trị muôn đời” (Tv 65, 6 – 7a). Bởi thế: “Ai đến với Ta sẽ không hề đói, ai tin vào Ta sẽ không hề khát bao giờ” (Ga 6, 35b). Do vậy, Chúa là cội nguồn để giải quyết mọi sự đói khát về đời sống tâm hồn của con người chúng ta. Để được như vậy, chúng ta phải đến với Chúa.

Chúng ta đến với Chúa là phải tin vào Chúa là Thiên Chúa thật, mà ý của Chúa Cha muốn chúng ta phải đến và tin vào Chúa. Điều có lợi và an tâm cho chúng ta khi chúng ta đến với Chúa. Nhưng đến với Chúa thì chẳng phải tự động chúng ta đến được với Chúa mà chính Chúa Cha soi sáng thúc đẩy chúng ta. Cho nên, Chúa rất trân trọng và xem chúng ta đến với Chúa là do Chúa Cha ban tặng. Vì thế, Chúa sẽ rất yêu quý chúng ta vô cùng. Chúa sẽ không loại trừ chúng ta, xua đuổi chúng ta ra ngoài tình yêu của Chúa: “Những ai Cha đã ban cho Ta sẽ đến với Ta. Và ai đến với Ta, Ta sẽ không xua đuổi ra ngoài. Bởi vì Ta từ trời xuống không phải để làm theo ý Ta, nhưng để làm theo ý Ðấng đã sai Ta. Vậy ý của Cha, Ðấng đã sai Ta, là hễ sự gì Người đã ban cho Ta, Ta chẳng để mất, nhưng ngày sau hết, Ta sẽ cho nó sống lại. Quả vậy, ý của Cha Ta là hễ ai thấy Con và tin vào Người thì có sự sống đời đời” (Ga 6, 37 – 41). Như vậy là đã quá rõ ràng rồi, khi chúng ta đến với Chúa, tin vào Chúa, Chúa sẽ là Đấng ban cho chúng ta sự sống đời đời bằng dưỡng chất thần linh nuôi hồn chúng ta. Điều đó cũng như dưỡng chất được chiếc ra từ thức ăn vật chất nuôi xác chúng ta, nhưng phần xác chúng ta sẽ phải chết, còn phần linh hồn chúng ta không chết được, cho nên để sống mãi mãi thì Chúa phải nuôi chúng ta.

Thế nhưng, những người Do Thái ngày xưa khi Chúa nói như vậy thì họ không chịu tin vào Chúa: “Nhưng Ta đã bảo các ngươi rằng: Các ngươi đã thấy Ta, nhưng các ngươi không chịu tin” (Ga 6, 36). Không tin vào Chúa thì sẽ không tin vào Chúa Cha là Đấng đã sai Chúa xuống thế làm người, là làm sai thánh ý Chúa Cha, vì Chúa Cha muốn chúng ta tin vào Chúa. Bởi thế, không tin vào Chúa thì phần thiệt hại thuộc về chúng ta, còn về phần Chúa, Chúa vẫn luôn luôn sẵn sàng đón nhận chúng ta bất cứ lúc nào chúng ta đến với Chúa.

Lạy Chúa đã sống lại từ cõi chết, chúng con là con cái trong nhà của Chúa, được Chúa cứu chuộc bằng giá máu của Chúa. Đó là niềm vui lớn nhất trong cuộc đời chúng con, xin Chúa giúp chúng con biết chia sẻ niềm vui này cho anh chị em của chúng con, nhất là những anh chị em chưa biết Chúa, nhờ đó, anh chị em chúng con đến với Chúa, tin vào Chúa mà được Chúa ban cho sự sống đời đời sau này. Amen.

Lm. Micae Võ Thành Nhân