THỨ SÁU – LỄ THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU

Mt 11,25-30

 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kikô Theo Thánh Mát-thêu

Khi ấy, Chúa Giêsu cất tiếng nói rằng: “Lạy Cha là Chúa trời đất, Con xưng tụng Cha, vì Cha đã giấu không cho những người hiền triết và khôn ngoan biết những điều ấy, mà lại mạc khải cho những kẻ bé mọn.

Vâng, lạy Cha, vì ý Cha muốn như vậy. Mọi sự đã được Cha Ta trao phó cho Ta. Và không ai biết Con, trừ ra Cha. Và cũng không ai biết Cha, trừ ra Con và kẻ mà Con muốn mạc khải cho.

“Tất cả hãy đến cùng Ta, hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng, Ta sẽ nâng đỡ bổ sức cho các ngươi.

Hãy mang lấy ách của Ta và hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhượng trong lòng, và tâm hồn các ngươi sẽ gặp được bình an. Vì ách của Ta thì êm ái và gánh của Ta thì nhẹ nhàng”.

 

SUY NIỆM 1:

A- Nhập Lễ

Hằng năm, cứ đến Chúa Nhật thứ II sau lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, vào thứ Sáu trong tuần này, Giáo Hội lại cử hành lễ kính Thánh Tâm Chúa Giê-su.

Lễ Thánh Tâm Chúa Giê-su không có mục đích gì khác hơn là cho chúng ta thấy được phần nào tình Chúa thương yêu chúng ta.

Chúa Giê-su chẳng những đã sinh ra, đã sống, đã chết cho chúng ta, mà còn đã sống lại và hiển trị vinh quang cho chúng ta, để ở cùng chúng ta luôn mãi: “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20b).

Cảm kích trước tình yêu thương của Chúa Giê-su, Giáo Hội muốn bày tỏ lòng mến đối với Người. Trong tâm tình ấy, chúng ta cùng hiệp dâng Thánh Lễ này, dâng tiến Trái Tim Chúa cuộc sống và tình yêu chúng ta.

- Lạy Chúa, nhờ Trái Tim quảng đại của Chúa, Chúa đã ban cho chúng con là đoàn chiên của Chúa, được no thoả nơi đồng cỏ Nước Trời. Xin Chúa thương xót chúng con...

- Lạy Chúa, nhờ Trái Tim bao dung của Chúa, Chúa đã chết trên thập giá, để giao hoà chúng con với Chúa Cha. Xin Chúa Ki-tô thương xót chúng con...

- Lạy Chúa, nhờ Trái Tim tình thương của Chúa, Chúa đã làm cho lòng trí chúng con được tràn ngập tình yêu và ấm lên tình thương của Chúa Cha trên trời. Xin Chúa thương xót chúng con...

B- Giảng Lễ

Con người hay bị chao đảo, khốn khổ vì ảnh hưởng cuộc sống với người khác, nên dễ có cái nhìn thiên lệch, ác cảm về Thiên Chúa giống như vậy.

Nhưng nếu ta đọc kỹ những bài đọc của phụng vụ hôm nay - và thực sự khi ta biết chịu khó đọc Sách Thánh, nhất là sách Phúc Âm - thì cái nhìn của chúng ta tất phải đảo ngược lại! Thiên Chúa quả thật là Đấng đáng cho chúng ta tôn thờ và yêu mến, bởi Người là Đấng nhân hậu và hằng quan tâm đến hạnh phúc của con người!

Thiên Chúa đã ví Người như một mục tử chăm lo cho đoàn chiên. Người quan tâm tập trung đoàn chiên cho khỏi tản mác. Con nào thất lạc, Người tận tâm tìm kiếm và âu yếm đưa về đàn. Người dẫn thả đoàn chiên nơi đồng cỏ xanh tươi mầu mỡ, lo chữa trị cho những con bị thương tích hay ốm đau.

Đây quả thật là hình ảnh tương phản với những mục tử nhà Ít-ra-en ~nghĩa là những nhà lãnh đạo dân Chúa thời bấy giờ.

Ngôn sứ Ê-dê-ki-en - tác giả bài đọc I - đã từng lên án gắt gao các vị lãnh đạo tôn giáo thời ông, bởi họ chẳng những đã không chăm sóc cho người dân, ngược lại còn bóc lột, làm thiệt hại đồng bào và quần chúng của mình. Họ đặt ra nhiều hình thức lễ nghi với những của lễ phải dâng tiến, để họ cũng được chia phần trong đó ! Họ bắt người khác phải tôn kính, trọng đãi họ. Họ sống giả dối trước Tôn Nhan Thiên Chúa và bất chấp dưới mắt mọi người. Ngôn sứ đã gọi tầng lớp lãnh đạo này như là những kẻ chăn thuê, coi mướn, chỉ chú tâm mưu tính cho quyền lợi và địa vị của mình, mà quên đi quyền lợi cũng như giá trị nhân phẩm của người dân - đồng bào của họ - và của chính Thiên Chúa - Đấng sở hữu chiên đích thật nữa !

Chỉ có Thiên Chúa mới là vị Mục Tử đích thật. Vì thế, khi Đức Ki-tô làm người, Người đã là hiện thân cho tình yêu của Thiên Chúa yêu thương con người, bởi vì Người cũng đích thật là Mục Tử của đoàn chiên dân Chúa. Chúa Ki-tô sẵn sàng thí hiến cả mạng sống mình vì đoàn chiên: “ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi: Đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta. Phương chi bây giờ chúng ta đã được nên công chính nhờ máu Đức Ki-tô” (Rm 5,8-9).

Mừng kính Thánh Tâm Chúa Giê-su, chính là chúng ta nhắc nhớ, ca tụng, cảm tạ tình thương yêu Chúa nhân hậu, bao dung và chân thành đã dành tất cả cho chúng ta. Xin Chúa cho chúng ta biết đáp trả tấm lòng yêu thương ấy bằng cách sống thánh thiện, tránh xa tội lỗi cũng như các dịp tội, để dành tình yêu thương lại cho Chúa. Nếu có lỡ dại sa ngã phạm tội, chúng ta cần vững tin vào lòng nhân hậu yêu thương của Chúa mà sám hối trở về và qua phép Hoà Giải, sớm làm hoà với Người.

Chúc tụng tình thương yêu của Chúa đến muôn đời. A-men.

Lm. Gioan Baotixita Nguyễn Văn Hiếu

 

SUY NIỆM 2: NHÌN NGẮM TRÁI TIM RỰC LỬA TÌNH YÊU

Tiếp liền sau lễ của Chúa, lễ kính Mình Máu Thánh Chúa Giê-su, thứ Sáu sau lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống 19 ngày, ngày Chúa tỏ Trái Tim Tình Yêu của Người ra cho Thánh nữ Maria Margarita Alacoque (16/6/1675), phụng vụ Giáo hội mời gọi chúng ta cử hành với lòng biết ơn lễ Trái Tim Cực Thánh Đức Chúa Giê-su rất hay thương “dịu hiền và khiêm nhường” trong lòng. Hôm nay cũng là ngày cầu nguyện cho ơn thánh hóa các linh mục. Chúng ta hãy xin với Chúa Ba Ngôi, cho Giáo hội có thêm nhiều ơn gọi thánh thiện. 

Hơn một năm qua, chiến tranh với danh nghĩa là (đặc biệt) do Nga khai mào tại Ucraina khiến cả thế giới ngày càng mệt mỏi khi cố gắng tìm giải pháp hòa bình. Khủng khiếp hơn là những cuộc xung đột về sắc tộc, tôn giáo, chính trị ở các cấp độ quốc gia và trên thế giới, nhiều người phải bỏ nhà cửa, quê hương, mong thoát khỏi cảnh áp bức với hy vọng tìm đến một nơi đáng sống hơn. Những cảnh nghịch lại với Tin Mừng đang gia tăng tại một số nơi. Người ta không ngừng tục hóa Giáo hội dưới nhiều hình thức. Thay vì nhắm đến sự canh tân theo Tin Mừng, qua việc huấn giáo, truyền giáo, chăm sóc mục vụ, giải thích mầu nhiệm các bí tích, người ta nhắm đến các đề tài khác, với hy vọng nhận được sự ủng hộ của dư luận quần chúng làm cho Giáo Hội đắng cay cực lòng. Đối mặt với tất cả những điều đó, chúng ta nhớ lại Lời Chúa Giê-su gọi mời: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng Ta, tôi sẽ cho nghỉ ngơi…” (Mt 11, 28-29). Trong lúc khó khăn này, chúng ta, những người đã chịu Phép Rửa tội và Thêm sức, phải mạnh dạn đem yêu thương vào nơi oán thù theo gương Chúa Ki-tô tình yêu, chú tâm vào biểu tượng của tình yêu từ bi của Chúa Ki-tô là Thánh Tâm Chúa Giê-su để chia sẻ tình yêu với đồng loại.

Trái tim là biểu tượng tự nhiên của tình yêu. Trái tim còn đập cho thấy mình còn sống. Thiên Chúa đã yêu con người bằng trái tim tình yêu: “Quả tim Ta thổn thức trong Ta … vì Ta là Thiên Chúa”  (x. Hs 11, 1b, 3-4, 8c-9 ). Quả Tim ấy được cụ thể nơi Trái Tim Chúa Giê-su (x. Ep  3,8-12.14-19). Trái Tim ấy yêu con người bằng một tình yêu bền vững, đáng tin cậy, thủy chung trọn đời.

Trái Tim của Thiên Chúa luôn rung động vì thương loài người và đổ tràn tình thương xuống cho nhân loại. Trái Tim ấy không đầu hàng trước sự vô ơn bạc nghĩa, từ chối của con người.

Mỗi lần chiêm ngắm tượng, ảnh Thánh Tâm Chúa Giê-su, chúng ta thấy nổi bật hơn cả ngoài Trái Tim bị đâm thâu, là ngọn lửa bốc cháy, để “Thiên Chúa chứng tỏ tình yêu của Người đối với chúng ta, nghĩa là trong lúc chúng ta còn là tội nhân, thì theo kỳ hẹn, Chúa Kitô đã chết vì chúng ta.” (Rm 5, 8). Còn có đôi bàn tay với những vết đanh. Chúng ta đặt mình trước Thánh Tâm Chúa và tự hỏi: Bàn tay con, lạy Chúa, đã làm những gì không phải, khiến bàn tay Chúa bị đanh đóng, và bàn chân con, đã bước đi những bước chẳng lành, để Chúa bị đóng đanh cả chân lẫn tay vào Thập giá? Câu trả lời, vì tội lỗi chúng ta, vì Chúa yêu thương loài người ta quá bội.

Biểu tượng tình yêu ấy đi xa hơn cái chết chính là cạnh sườn của Chúa bị một lưỡi đòng đâm thâu qua. Về điểm này, chứng nhân tận mắt là thánh Tông đồ Gio-an đã quả quyết: “Một trong những người lính lấy đòng đâm vào cạnh sườn Người, và tức thì máu cùng nước chảy ra” (x. Ga 19,34). Lưỡi giáo của tên lính đã mở cạnh sườn Chúa, để từ vết thương máu cùng nước chảy ra rửa chúng ta sạch muôn vàn tội lỗi. Còn tình yêu nào ngọt ngào êm dịu hơn đã được trao cho Hiền Thê; đó chính là sự mở rộng vòng tay ôm chặt của tình yêu Chúa.

Trái tim Chúa Giê-su được miêu tả có vết thương và mão gai quấn quanh. Mão gai nhắc nhớ chúng ta về tình yêu đích thực, chung thủy, hoàn toàn tận hiến cho tha nhân, quên cả đau khổ của chính mình, ngụ ý nói, Tình yêu thực sự không thể tách rời khỏi mão gai.

Trái Tim Chúa Giê-su có Thánh Giá biểu tượng chính của Đức tin Ki-tô giáo, cắm ở phía trên, giúp chúng ta chiêm ngắm tình yêu hy sinh của Chúa Giê-su đã hiến mạng sống mình vì chúng ta khi bị treo trên Thánh Giá. Chúa Giê-su, một con người vô tội bị thế gian kết án, đã lấy yêu thương tha thứ đáp trả hận thù khi thưa cùng Chúa Cha rằng: “Lạy Cha xin tha thứ cho họ, vì họ không biết việc họ đã làm” (Lc 23. 24). Người cũng dạy chúng ta phải yêu như Chúa yêu và tha thứ cho nhau như Chúa đã tha thứ cho chúng ta.

Trái Tim Chúa Giê-su có ngọn lửa bao quanh. Đây là những ngọn lửa vinh quang, lửa tình yêu bừng sáng. Ngọn lửa ấy những ước mong chiếu sáng thế gian tội lỗi và tối tăm, sưởi ấm thế giới lạnh lùng. Đó cũng là ngọn lửa nhiệt thành, chiếu rọi trên các Tông Đồ ngày Lễ Ngũ Tuần.  

Ngón tay Chúa Giê-su chỉ vào Trái Tin Chúa, có ý mời gọi chúng ta: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11, 28-29).

Tay kia dang rộng ra như tha thiết chào đón mọi người, vẫy mời chúng ta hãy uốn lòng nên giống Trái Tim Chúa để làm như vậy đối với tha nhân. Trái Tim Chúa Giê-su quả là một biểu tượng mạnh mẽ của tình yêu Thiên Chúa chúng ta, những người được trao cho sứ mạng yêu thương trên mặt đất này. Hơn bao giờ hết, thế giới hôm nay ngạo mạn cứng đầu, vơi cạn tình yêu đang rất cần đến tình yêu kín múc từ Trái Tim Cực Thánh Chúa Giê-su.

Lạy Trái Tim Cực Thánh Chúa Giê-su, xin thương xót chúng con. Amen.

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

 

SUY NIỆM 3:

Câu chuyện

Ngay từ xa xưa, trái tim luôn là biểu tượng trung tâm của mọi hành động tình cảm, cảm xúc, tinh thần, luân lý và trí tuệ của con người. Vâng, “tim” là biểu tượng của những gì quan trọng nhất, cơ bản nhất và là biểu tượng sự sống của kiếp nhân sinh: Người có trái tim ngừng đập là người đã đi vào cõi chết và sự sống không còn hiện hữu.

Tuy nhiên, biểu tượng trên tất cả mà “trái tim” phát biểu, đó là tình yêu. Ngoài ra, tim còn là dấu hiệu của lòng nhân ái, quảng đại như người ta thường gọi người quảng đại là con người của trái tim. Tim cũng được chỉ người có ý chí mạnh mẽ, cho nên người can đảm còn được ca tụng: Người có trái tim mạnh mẽ...

Suy niệm

Trong Thánh Tâm, trái tim của Thiên Chúa gặp gỡ và cứu độ con người. Bởi sự hiệp thông, “ở trong, cư ngụ”. Chúa Kitô ở trong chúng ta và đưa chúng ta vào trong trái tim Ba Ngôi: “Con ở trong họ và Cha ở trong Con, để họ được hoàn toàn nên một” (Ga 17,23). Sâu sắc hơn nữa, như Chúa Giêsu đã thổ lộ: “tình Cha đã yêu thương Con ở trong họ, và Con cũng ở trong họ nữa” (Ga 17,26). Tình yêu Thiên Chúa đạt đỉnh cao bằng cái chết của Con Thiên Chúa trên thập giá để cứu độ nhân sinh: “Không có tình thương nào lớn hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu”(Ga 15,13).

Truyền thống về Thánh Tâm Chúa Giêsu được Tin Mừng ghi nhận, mà nguồn gốc chính là hình ảnh thánh tông đồ Gioan, môn đệ được Chúa yêu đã đặt mình vào lồng ngực Chúa ở trong bữa tiệc ly (x. Ga 13,23), nói về tình yêu bao bọc của Ngài đối với người môn đệ, và nhân loại qua Gioan là người đại diện, tình yêu Ngài bao bọc cả nhân loại. Thánh Augustinô đã diễn giải hình ảnh này: “Thánh Gioan, tác giả Tin Mừng, khi đặt mình vào ngực Chúa ở trong bữa Tiệc ly đã nhận từ Thiên Chúa sự dâng hiến cao cả của Thiên Chúa, ông đã lãnh nhận những gì bí mật nhất, thâm sâu (của tình yêu Thiên Chúa) trong Thánh Tâm Chúa” (“Tractatus in Johannis evangelium”, XVIII 1). Hình ảnh rõ nét nhất mà Gioan đã ghi nhận làm trung tâm tình yêu: Trên thập giá, tim của Chúa Giêsu bị đâm thâu, máu cùng nước chảy ra (x. Ga 19,34-37), phát sinh sự sống, Giáo hội và các bí tích Thánh Thể và Thanh Tẩy biểu tượng của sự sống, của tình yêu: Tình yêu gội rửa bằng nước, và tình yêu nuôi sống bằng máu. Thánh Anselmo khi chiêm ngưỡng hình ảnh trái tim Chúa bị đâm thâu đã cảm nhận: “Chúa Giêsu hiền lành, Ngài đã mở cạnh sườn, Ngài đã biểu lộ và phân phát sự tốt lành trọn hảo và Đức Ái tuôn trào nơi trái tim Ngài” (Dixième méditation).

Khi chiêm ngưỡng hai hình ảnh mang ý nghĩa của Thánh Tâm Chúa, Thánh Ambrôsiô (340 - 397) mời gọi người tín hữu đến bên tình yêu Chúa Kitô để múc nguồn tình yêu: “Hãy đến bên Đức Kitô vì Ngài là tảng đá nơi các mạch suối được sinh ra. Hãy đến bên Chúa Kitô vì Ngài là dòng suối trong đó có dòng thác tạo nên thành trì (để bảo bọc con người) của Thiên Chúa. Hãy đến bên Đức Kitô, bởi Ngài là bình an. Hãy đến bên Chúa Kitô vì những dòng suối sự sống tuôn trào từ cõi lòng (trái tim) Ngài”.

Cho nên, nơi Thánh Tâm Chúa, con người hôm nay, với tâm thức và tình cảm của thời đại khám phá ra câu trả lời mà mình luôn tự vấn và tất cả sự chờ đợi trong cuộc sống: tìm thấy được một nơi yên nghỉ sau những giây phút mệt mỏi của đời sống và đặt tất cả mọi nỗi lo âu, những gánh nặng trần thế như Chúa Giêsu đã khẳng định: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. “Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11,28-30). Thật thế, con người sẽ tìm thấy bình an, nơi tình yêu thánh trong trái tim Chúa khi đi vào sự hòa giải của chính bản thân, giữa mình với Thiên Chúa. Thánh Tâm sẽ là nguồn hy vọng sống, sống trọn vẹn trong tình yêu của Thiên Chúa.

Ý lực sống

“Tất cả những gì Thiên Chúa muốn nói với chúng ta về ngôi vị của Ngài, về tình yêu của Ngài, Người đã đặt trong Thánh Tâm Đức Giêsu và qua Trái Tim Thánh này, Thiên Chúa phát biểu cho chúng ta” (Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II).

Lm. Nguyễn Vinh Sơn SCJ

 

SUY NIỆM 4:

Thiên Chúa tự bản chất là vô hình nhưng Người đã trở nên hữu hình khi làm người để ở bên cạnh chúng ta, như lời thánh Gioan khẳng định trong bài đọc hai. Vì thế Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy đến và học nơi Chúa bài học hiền lành và khiêm nhượng trong lòng, như trong bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe.

Trước hết, bản chất của Thiên Chúa là Tình Yêu:

Thư thánh Gioan nói chưa ai thấy Thiên Chúa bao giờ nhưng nếu chúng ta yêu thương nhau thì tình yêu của Thiên Chúa đang thể hiện nơi chúng ta, vì Chúa Cha đã sai Con của người đến làm Đấng cứu độ thế gian. Vâng, đúng như vậy, Thiên Chúa đã mang lấy một trái tim bằng thịt, chứ không phải là gỗ đá hay tưởng tượng đâu. Tuy nhiên, khi nói đến trái tim là chúng ta muốn nói đến tình yêu mà tình yêu lại là cái vô hình. Có giải phẫu trái tim người ta cũng không thấy tình yêu nằm ở chỗ nào mà chỉ thấy thịt tươi máu đỏ. Không thể bảo trái tim là tình yêu, không phải cứ vẽ hai trái tim với mũi tên rướm máu mà bảo đó là tình yêu. Tình yêu chẳng phải là bông hoa đỏ, chẳng phải là món quà sang trọng, chẳng phải là nụ hôn, ánh mắt hay vòng tay. Tất cả chỉ là dấu chỉ của tình yêu. Chúng ta khó đọc ra khuôn mặt của tình yêu nếu không có những dấu chỉ đi kèm. Đó là lý do tại sao phụng vụ dành riêng một ngày lễ kính trái tim Chúa  Giêsu. Song đây cũng chẳng phải nhằm kính một bộ phận  cơ thể, dù đó là thân xác của Chúa mà chỉ muốn nhắc nhở  về tình Chúa yêu thương.

Vì thế thánh Gioan mới khẳng định: Ai yêu thương thì đã được Thiên Chúa sinh ra và người ấy biết Thiên Chúa. Còn ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là Tình yêu.

Đó là mạc khải của Chúa Giêsu về Thiên Chúa là Tình yêu:

Nhìn vào hình ảnh Thánh Tâm, chúng ta liên tưởng đến lòng Chúa bao dung. Tình yêu ấy giúp chúng ta liên tưởng đến những việc làm cụ thể của Chúa, những phép lạ, những lời giảng dạy, những lần tha thứ và nhất là cái chết trên thập giá của Ngài. Tất cả chứng minh lòng Chúa yêu thương và chỉ muốn điều tốt lành nhất cho con người; song Ngài không thể cưỡng ép ai yêu Ngài vì cưỡng ép không còn là yêu. Tình yêu đúng nghĩa không bao giờ dùng sức mạnh hay quyền lực, cũng chẳng bao giờ lừa lọc để mua chuộc tình yêu.

Hordelin, một thi sĩ người Đức, đã nói: “Thiên Chúa làm người giống như biển cả làm nên đất liền bằng cách thu mình lại”. Đại dương thật mênh mông, muốn có dại lục thì chỉ có cách là biển cả phải thu mình lại, nhường chỗ cho đất liền nhô lên khỏi biển. Như vậy, yêu ai là muốn cho người đó được ‘sống và sống dồi dào’, chứ không phải là lấn lướt để người đó thua kém đi. Sức mạnh của tình yêu là như thế đó !

Chính sự khiêm nhường thẳm sâu làm chứng quyền năng vô biên của Thiên Chúa. Thông thường ở đời, quyền năng là để chiến thắng, để chế ngự, để đè bẹp. Trái lại, nơi Thiên Chúa, quyền năng là để chịu thua, để yêu thương, để tha thứ. Sức mạnh không ở nơi quyền lực. Quyền lực bộc phát là quyền lực không tự kiềm chế được. Trái lại, khiêm nhường là chế ngự được sức mạnh của mình. Đó mới chính là quyền năng thực sự mạnh mẽ.

Ngày nay sự hiền lành dễ thương không còn được đánh giá cao như trước, bởi vì ngày nay bạo lực được phổ biến và có mặt khắp nơi, trên báo chí cũng như trên phim ảnh và truyền hình. Trong một thế giới mà những quy luật “mạnh được yếu thua”, “lý của kẻ mạnh bao giờ cũng thắng”, hoặc “được làm vua thua làm giặc”, gần như là tất yếu và phổ biến, thì lời giảng dạy của Chúa Giêsu về đức hiền lành và khiêm nhường, quả thực rất khó được chấp nhận và xác tín, nếu không muốn nói là chướng tai gai mắt.

Tuy nhiên, giáo huấn của Chúa vẫn không thay đổi: Hãy học cùng Chúa vì Chúa hiền lành và khiêm nhường.

Phải chăng đó là một sự khiêm nhường tột cùng của một Thiên Chúa làm người; hạ mình xuống rốt hết mọi người, lãnh nhận cái chết của tên nô lệ bị đóng đinh thập giá.

Nói tóm lại, Thiên Chúa chúng ta tôn thờ và yêu mến là như vậy đó ! Chúng ta tin Thiên Chúalà đấng toàn năng nhưng không phải là sự toàn năng nhằm huỷ diệt sự tự do của con người. Sức mạnh của Người là sức mạnh của tình yêu nên Người không thể làm những gì mà tình yêu không cho phép làm. Thế nên Thiên Chúa không thể kết án hoả ngục cho bất cứ ai mà chỉ có con người tự kết án chính mình khi ngoan cố không muốn tồn tại trong Thiên Chúa là Nguồn Sống. Chỉ có Thiên Chúa là tồn tại vĩnh cửu, là thiên đàng của con người, còn hoả ngục là sự hư mất đời đời, nghĩa là không tồn tại mãi mãi, dù là tồn tại trong đau khổ. Đó là điều chúng ta phải chọn lựa: hoặc là hạnh phúc đời đời trong tình yêu của Chúa, hoặc ngoan cố lạc xa quỹ đạo Tình Yêu để tiến gần đến chỗ diệt vong.

Lm. Phaolô Phạm Công Phương

 

SUY NIỆM 5: TRÁI TIM CHÚA GIÊSU NGAI TÒA TÌNH YÊU NGỰ TRỊ 

Trái tim là biểu tượng của yêu thương. Nơi Đức Giêsu, trái tim Thiên Chúa luôn đập để đem lại ơn sủng và sức sống cho nhân loại. Thiên Chúa đã muốn cho Con Một Ngài bị treo trên thập giá, bị lưỡi đồng đâm thâu qua trái tim, để nhờ đó tình thương và ân sủng tuôn tràn cho chúng ta, đem lại sự ngơi nghỉ cho những tâm hồn mỏi mệt và sự tha thứ cho kẻ sám hối.

“Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28). Hãy để tâm trí tĩnh lặng hướng về khung cảnh xưa khi lời này của Đức Giêsu vang lên, chúng ta sẽ có được lời giải thích thỏa đáng. Chúa Giêsu đang nói lời này cho ai? Những người đang trực tiếp nghe Đức Giêsu là những người Do Thái. Họ phải mệt nhọc tuân giữ vô số những điều luật, không những luật căn bản và quan trọng của đạo Do Thái, mà còn rất nhiều điều chi tiết, và tập tục mà các thầy dạy đạo đã thêm thắt vào, đến nỗi nhiều khi khó phân biệt cái chính với cái phụ.

Xưa cũng như nay, đôi khi chúng ta chất lên vai nhau những gánh nặng vô tình hay hữu ý. Những gánh nặng do ta chất lên vai người khác, người khác chất lên ta, đó là những gánh nặng trong cuộc sống chung. Có thể ta không ý thức được điều mình làm khiến người khác đang phải nín lặng chịu đựng. Có bao giờ ta tự hỏi mình: ta đã làm những gì khiến những người chung quanh ta phải buồn lòng?  Khi biết hỏi như vậy, ta đặt mình trước một chất vấn rất nhân bản.

Vậy, gánh nặng nề của chúng ta gồm những gì? Trước nhất, đó là ơn gọi đi theo Đức Kitô trong đời sống Kitô hữu. Ơn gọi là một ơn ban đặc biệt, nhưng để sống ơn gọi từng ngày, chúng ta phải đối diện với nhiều thách đố; và đôi khi, chúng ta cảm thấy mệt mỏi. Hơn nữa trong đời sống, ai cũng có trách nhiệm, cũng có phận vụ, mà trách nhiệm và phận vụ có thể là một gánh nặng. Gánh nặng nề còn là tội lỗi, và nhất là những thói tục xấu chi phối nội tâm chúng ta và chúng ta cảm thấy bất lực. Gánh nặng này vừa làm ô nhiễm tâm hồn, vừa làm xáo trộn tương quan của chúng ta với mình, với Chúa và với nhau. Gánh nặng nề còn là những vết thương, những khó khăn, những ngang trái, những thử thách riêng tư của chúng ta mà chỉ có Chúa và chúng ta biết mà thôi. Khi ý thức được những gánh nặng mình chất lên vai người khác và những gánh nặng mình đang mang, đời sống của ta sẽ trưởng thành hơn. Nhận ra sự thật về mình như thế, chúng ta sẽ thấy mình cần được giải thoát. Đồng thời, chúng ta cũng nhận ra rằng không có điều gì và cũng không có ai ở trên đời này có thể mang lại cho chúng ta sự giải thoát, mang lại cho chúng ta sự nghỉ ngời và tự do đích thực ngoài Đức Giêsu. Từ đó chúng ta khát mong được ngơi nghỉ trong trái tim yêu thương của Người.

Chúng ta khát khao ơn giải thoát đến từ chính Chúa Giêsu, vì chính Người đã sống, đã nếm trải nỗi thống khổ và niềm vui, nỗi bi đát và sự cao cả của phận người, nên Người sẽ hiểu chúng ta và lời Người “hãy đến cùng tôi” vang vọng thật sâu trong hồn ta, đụng chạm mạnh mẽ nơi tim ta, cho ta niềm an ủi.  Gánh nặng đời ta sẽ vơi khi ta biết tìm đến với Trái Tim Chúa, nơi ấy ta được nghỉ ngơi bồi dưỡng, vì Đức Giêsu đến để cảm thông và mang vác cho chúng ta, để chúng ta được bình an, nghỉ ngơi, được sống và sống dồi dào (x. Ga 10,10).

Chỉ khi náu ẩn nơi trái tim Chúa Giêsu chúng ta mới hiểu được lẽ khôn ngoan nhiệm mầu của Thiên Chúa được mạc khải cho chúng ta. Lẽ dĩ nhiên, để náu ẩn nơi trái tim Chúa, chúng ta phải thực sự trở nên “những kẻ bé mọn”. Vì chỉ những kẻ bé mọn mới có khả năng tiếp nhận chân lý vĩnh cữu mà Thiên Chúa mạc khải cho. Nhưng dựa trên tiêu chí nào để biết ai là “những kẻ bé mọn”? Quả thực, là phận người, tất cả chúng ta đều mong manh trước thời gian, không gian, vũ trụ và Thiên Chúa. Trở về với chính mình, chúng ta thấy mình thật nhỏ bé. Nếu ở bình diện này bình diện kia chúng ta cao cả, chúng ta khôn ngoan thông thái, thì đó chỉ là chúng ta được tham dự vào sự thông minh thượng trí của Thiên Chúa mà thôi. Một khi không ý thức được điều này là chúng ta rơi vào ảo tưởng, rồi tự đặt mình lên vị trí độc tôn mà quên rằng chúng ta được Thiên Chúa dựng nên. Chúng ta tự mãn cho rằng mình “lớn” trước Thiên Chúa, và như thế làm sao chúng ta có cơ may đón nhận những mạc khải của Thiên Chúa? Chúng ta quên rằng chúng ta thực sự là thụ tạo, chúng ta “đang vất vả mang gánh nặng nề”. Thân phận con người chúng ta tự nó là một gánh nặng và chúng ta được mời gọi đến với Đức Giêsu và học với Người để nhận được sự nghỉ ngơi. Bởi chính Đức Giêsu đã trở nên “người bé mọn” trong mầu nhiệm Nhập Thể và Người là khuôn mẫu để chúng ta mặc lấy tâm tình hiền hậu và khiêm nhường trong Thánh Tâm Ngài.

Chúng ta cầu xin Chúa cho chúng ta biết nỗ lực trở nên “người bé mọn” trước mặt Chúa, để có thể nghe lời Chúa và đón nhận được những chân lý mạc khải.  Như thế, chúng ta sẽ thực sự tìm được sự ngơi nghỉ và sự bình an sâu thẳm mà phận người chúng ta khát vọng.

 Tu sĩ Antôn Nguyễn Tất Bính, SVD