THỨ SÁU SAU LỄ CHÚA HIỂN LINH NĂM A
Lc 5,12-16
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca
12 Xảy ra khi Chúa Giêsu đang ở trong một thành kia, thì có một người mình đầy phong hủi, thấy Chúa Giêsu, liền sấp mặt xuống đất, van xin Ngài rằng: “Lạy Thầy, nếu Thầy muốn, Thầy có thể cho tôi được sạch”.
13 Người giơ tay chạm đến người ấy và nói: “Ta muốn, hãy nên trơn sạch”. Lập tức, người ấy khỏi phong hủi.
14 Người ra lệnh cho người ấy không được nói với ai, nhưng: “Hãy đi trình diện với tư tế, và hãy dâng lễ vật như luật Môsê đã dạy, để làm chứng cho người ta biết ngươi được sạch”.
15 Nhưng tiếng đồn về Người cứ lan rộng, và dân chúng đông đảo kéo nhau đến để nghe Người và được chữa lành bệnh tật. 16 Còn Người, thì lánh vào nơi hoang vắng và cầu nguyện.
SUY NIỆM 1: THÁNH THẦN, NƯỚC VÀ MÁU
Chúa Giêsu tiếp tục hiển linh với quyền năng tuyệt đối khi chữa lành người bệnh phong. Ngôi vị Thiên Chúa của Người được chứng thực bằng chính lời chứng của Thiên Chúa với ba chứng nhân: Thánh Thần, Nước và Máu. Thánh Thần là lời chứng đến từ Đức Chúa Cha. Nước và Máu là lời chứng của chính Chúa Giêsu. Tất cả làm thành lời chứng của Ba Ngôi Thiên Chúa. Tất cả là lời chứng về quyền năng và tình yêu của Thiên Chúa.
Thánh Thần là tình yêu kết hiệp Ba Ngôi Thiên Chúa, là sự sống, là sức mạnh, là lò lửa, là nguồn sinh lực vô biên, không bao giờ vơi cạn, nhưng ngày càng sung mãn. Là sự thật, là nguồn mạch sự thật, nên là lời chứng không thể phủ nhận được.
Nước và Máu là tình yêu cụ thể, thể hiện trong xác thịt Con Người, trước mắt mọi người. Là tình yêu bao dung, tẩy sạch mọi tội lỗi vô vàn vô số của nhân loại. Nhưng trên hết là tình yêu cứu độ đưa loài người từ tình trạng bị trừng phạt đến được thứ tha, từ thân phận nô lệ khốn khổ về làm con Thiên Chúa trong tự do, từ vực sâu sự chết đớn đau về vinh quang khôn sánh của con Thiên Chúa. Đó là tình yêu lớn lao cao cả nhất dám hi sinh tính mạng vì bạn hữu. Vì thế cũng là lời chứng chân thực nhất và có sức thuyết phục nhất.
Lời chứng tuyệt đối quan trọng không chỉ vì thế giá của Thiên Chúa, nhưng quan trọng vì quyết định vận mệnh của ta. Bằng chứng ấy chỉ nói lên một điều quan trọng: Thiên Chúa yêu thương ta vô vàn và Thiên Chúa đã làm tất cả chỉ vì muốn ta được sống và được hạnh phúc. Chính vì thế lời chứng ấy đặt ta trước một chọn lựa sinh tử: Tin hay không. Từ đó là quyết định sống hay chết.
Người bệnh phong là người coi như đã chết vì bị loại trừ khỏi cộng đoàn và không có hi vọng được chữa lành. Người bệnh phong là người đã ở bên bờ vực sinh tử, ở lằn ranh giữa cái chết và cái sống. Anh đã tin tưởng tuyệt đối vào Chúa Giêsu. Anh đã lựa chọn đúng nên đã từ cõi chết trở về cõi sống. Anh đã lựa chọn niềm tin vào con Thiên Chúa nên anh có sự sống, không chỉ là sự sống với đầy đủ ý nghĩa nhất của thân xác, nhưng còn là sự sống đời đời của linh hồn bất diệt.
Lạy Thiên Chúa là Tình Yêu. Bằng chứng của Chúa chính là bằng chứng của tình yêu. Động lực của bằng chứng cũng là tình yêu: mong muốn đem đến cho con sự sống đời đời. Xin cho con biết tin nhận và tuyên xưng Thiên Chúa Tình Yêu trong suốt cuộc đời con.
TGM Giuse Ngô Quang Kiệt
SUY NIỆM 2: HÃY XIN ĐIỀU CHÚA MUỐN
Bài đọc 1 hôm nay là phần cuối thư Thứ Nhất của Thánh Gioan. Chúng ta có thể nói rằng: đây là kết luận của tất cả những luận chứng mà Thánh Gioan đã trình bày để làm chứng cho mầu nhiệm nhập thể của Chúa Giêsu: qua việc “mặc lấy xác phàm,” Chúa Giêsu là chứng từ hữu hình và sống động của tình yêu của Chúa Cha dành cho con người, và cũng là Đấng kêu gọi chúng ta hãy yêu thương nhau như Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta. Thánh Gioan muốn nói rõ cho chúng ta những lời chứng về Đức Kitô mà Ngài đề cập trong thư của ngài không phải là lời chứng của người phàm, nhưng là của Thần khí: “Chính Đức Giêsu Kitô là Đấng đã đến, nhờ nước và máu; không phải chỉ trong nước mà thôi, nhưng trong nước và trong máu. Chính Thần Khí là chứng nhân, và Thần Khí là sự thật” (1Ga 5:6). Theo Thánh Gioan, không chỉ có Thần Khí là chứng nhân duy nhất, nhưng còn nước và máu: “Có ba chứng nhân: Thần Khí, nước, và máu. Cả ba cùng làm chứng một điều” (1Ga 5:7-8). Khi nói đến Thần Khí, nước và máu, Thánh Gioan muốn đưa chúng ta về với mầu nhiệm Thập Giá, là đỉnh cao của tình yêu của Thiên Chúa, nơi con tim của Chúa Giêsu bị đâm thâu để nước và máu chảy ra trở nên nguồn suối ân sủng cho con người (Ga 19:34). Thập giá chính là lới chứng hùng hồn và chân thật nhất của Chúa Cha về việc “yêu thế gian đến nỗi ban Con Một của mình” (Ga 13:1). Đây là điều Thánh Gioan khẳng định trong câu: “Lời chứng đó là thế này: Thiên Chúa đã ban cho chúng ta sự sống đời đời, và sự sống ấy ở trong Con của Người” (1Ga 5:11).
Tuy nhiên, Thánh Gioan cũng khuyến cáo chúng ta về việc chậm tin của chúng ta vào lời chứng của Chúa Cha, lời chứng của tình yêu thập giá. “Chúng ta vẫn nhận lời chứng của người phàm, thế mà lời chứng của Thiên Chúa còn cao trọng hơn, vì đó là lời chứng của Thiên Chúa, lời Thiên Chúa đã làm chứng về Con của Người (1Ga 5:9). Chúng ta thường nhận lời chứng của người phàm, còn lời chứng tình yêu cao trọng của thập giá thì đôi khi chúng ta không đón nhận vì có sự “rợp bóng” của đau khổ. Mấy ai trong chúng ta chấp nhận rằng: Đau khổ là dấu chứng hùng hồn nhất của một tình yêu chung thuỷ. Nhưng quả vậy, một tình yêu chân thật và trung thành với bản chất của mình [yêu cho đến cùng] chỉ được chứng thực khi đối diện với đau khổ và sự chết mà vẫn trung thành với chính mình. Còn một tình yêu bỏ cuộc khi đối diện với đau khổ là tình yêu nửa vời.
Để hiểu ý nghĩa của bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta cần phải đặt nó vào trong bối cảnh lớn hơn. Bài Tin mừng này thuật lại một trong hai phép lạ chữa lành mà Chúa Giêsu thực hiện lại trong chương 5: Chữa lành người phong cùi (5:12-16) và chữa lành người bị bại liệt (5:17-26). Điều làm chúng ta quan tâm ở đây đó là hai phép lạ chữa lành này được đặt giữa hai lần Chúa Giêsu gọi các môn đệ: Chúa Giêsu gọi các môn đệ đầu tiên (5:1-11) và gọi Lêvi (5:27-28). Điều này có ý nghĩa gì? Như chúng ta đã trình bày trong bài chia sẻ hôm qua, đây là lối viết theo kiểu “bánh mì kẹp,” qua đó Thánh Luca muốn nói rằng: Khi được Chúa Giêsu gọi, chúng ta sẽ được chữa lành để có thể đứng lên đi theo Ngài (chữa lành khỏi bại liệt) và hội nhập với cộng đoàn, không còn phải sống ngoài trại, chia cắt với người thân, với cộng đoàn tôn thờ Thiên Chúa (chữa lành khỏi bệnh phong cùi). Thật vậy, đây là một kỹ thuật Thánh Luca sử dụng để chuyển tải điều ngài muốn nói với người nghe: Việc đáp lại tiếng gọi của Chúa Giêsu luôn mang lại sự chữa lành, hay nói một cách tích cực hơn, khi chúng ta đáp lại tiếng Chúa gọi, chúng ta sẽ tìm được Ngài chữa lành. Nếu chúng ta chưa được chữa lành khỏi mọi chứng bệnh ngăn cản chúng ta đến với Chúa và người khác cách tự do, đó là vì chúng ta chưa đáp lại tiếng Chúa Giêsu và theo Ngài cách triệt để.
Chúng ta đi vào chi tiết của bài Tin Mừng hôm nay để rút ra thêm một vài điểm để suy gẫm: (1) Sự khiêm nhường của người phong cùi khi cầu xin Chúa Giêsu: Chúng ta để ý cử chỉ và lời xin của anh ta thật khiêm tốn: “vừa thấy Người, liền sấp mặt xuống, xin Người rằng: “Thưa Ngài, nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch” (Lc 5:12). Trong câu này, “nếu Ngài muốn,” chúng ta thấy người phong cùi xin điều anh ta thật sự cần, nhưng anh vẫn để quyền tự do quyết định cho Chúa Giêsu. Thái độ khiêm nhường của người phong cùi làm chúng ta xét lại thái độ của chúng ta khi đến với Chúa, nhất là khi đến để xin Ngài một điều gì mà chúng ta thật sự cần. Hãy để Chúa làm những gì Ngài muốn trên cuộc đời chúng ta. Đừng nài ép Ngài thực hiện những gì chúng ta muốn cho cuộc đời của mình. Trời cao hơn đất thế nào, thì tư tưởng và đường lối của Thiên Chúa cũng cao hơn của chúng ta như thế: Điều Ngài muốn cho cuộc đời của chúng ta là vĩnh cửu, còn điều chúng ta thường muốn cho cuộc đời của mình là chóng qua và mau tàn.
(2) Căn bệnh phong cùi: Trong xã hội chúng ta ngày hôm nay, nhiều nước tuyên bố đã xoá sạch căn bệnh này. Ngay cả ở Việt Nam cũng thế, căn bệnh phong cùi không còn là một căn bệnh nguy hiểm như những thập niên hoặc thế kỷ trước. Tuy nhiên, điều chúng ta đang nói đến là bệnh phong cùi thể lý. Tin Mừng không chỉ nói đến bệnh phong cùi thể lý, mà còn nói đến bệnh phong cùi luân lý và thiêng liêng. Vào thời Chúa Giêsu, bệnh phong cùi không chỉ nói đến căn bệnh gây ra bởi virút Hansen, nhưng là tất cả những chứng bệnh về da. Điều làm cho một người mắc bệnh này đau khổ nhất không phải là cái đau của thể xác, nhưng là cái đau của tâm hồn vì bị chia cắt khỏi gia đình, người thân. Họ phải sống ngoài lều trại, không được tham dự vào đời sống cộng đoàn và việc phụng tự (x. Lv 13:46; Ds 5:2). Chứng bệnh phong cùi thiêng liêng và luân lý là chứng bệnh mà nhiều người chúng ta đang mắc phải. Chúng ta để cho nhiều thứ chia cắt chúng ta khỏi đời sống tương quan với người khác và với Chúa. Hãy xin Chúa chữa lành chúng ta để chúng ta có thể được sạch để tôn vinh Chúa qua đời sống yêu thương và phục vụ của chúng ta.
(3) Sự khiêm nhường của Chúa Giêsu khi tiếng đồn về Người ngày càng lan rộng: Thái độ của Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay nhắc nhở chúng ta về việc “yêu thinh lặng” trong đời sống cầu nguyện sau khi thực hiện nhiều công việc thành công. Chúa Giêsu muốn nhắc nhở chúng ta rằng: Đừng tìm kiếm vinh quang nơi con người, nhưng hãy tìm kiếm sự thân mật với Thiên Chúa. Càng thành công trong công việc bao nhiêu, càng phải lui vào nơi hoang vắng để cầu nguyện bấy nhiêu, để chúng ta “không bị sa chước cám dỗ” đi tìm hư danh hơn là tìm vinh danh Thiên Chúa như lời Kinh Lạy Cha mà Ngài đã dạy chúng ta.
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
SUY NIỆM 3: CHÚA GIÊSU QUYỀN NĂNG
1. Bài Tin Mừng, tiếp tục khai triển đề tài Chúa tỏ mình ra. Qua đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã cho chúng ta thấy, Ngài là một Thiên Chúa quyền năng.
Thánh Luca đã ghi lại việc Chúa tỏ mình ra ở đây qua câu chuyện Chúa chữa một người phong cùi.
Thánh sử ghi: “Người giơ tay chạm đến người ấy và nói: Ta muốn - hãy nên sạch. Lập tức người ấy khỏi phong cùi”. (Lc 5,12)
Rõ ràng là ở đây, Chúa Giêsu đã tỏ ra cho con người thấy quyền năng của Chúa. Bởi chỉ bằng một ý muốn, một lời nói, Ngài đã chữa lành người phong cùi.
2. Chúa Giêsu của chúng ta ngoài việc tỏ mình ra là một Thiên Chúa quyền năng, Chúa còn tỏ ra cho ta thấy, Ngài là một Thiên Chúa giàu lòng thương xót. Lòng thương xót này còn được chứng tỏ qua việc Ngài lấy máu của mình để chuộc tội cho những ai biết tin vào Ngài.
Hơn nữa, Đấng quyền năng ấy, còn là một Thiên Chúa luôn biết cảm thông. Bản chất yêu thương của Chúa đã khiến Ngài muốn cảm thông với thân phận con người.
Họa sĩ tài ba Vincent Van Gogh không phải lúc nào cũng cầm cọ. Ông đã từng đến làm việc tại một mỏ than ở Borinage, Bỉ. Ở đó mọi người rất quý trọng ông. Những khi rảnh rỗi, ông thường được mọi người mời nói chuyện về cuộc sống. Ông nhận ra có một số người thường phản ứng khi nghe ông nói chuyện. Ông hiểu vì cuộc sống họ quá khổ sở, đến nỗi họ thấy khó mà tin được vào lời nói của người khác. Hằng ngày nhìn những người thợ mỏ phải làm việc trong các điều kiện khó khăn triền miên mà chỉ nhận được đồng lương chết đói. Gia đình họ luôn phải chạy ăn từng bữa, ông chợt thấy xót xa khi so sánh với cuộc sống tương đối sung túc của mình.
Vào một buổi tối cuối năm lạnh lẽo, trong đoàn người thợ mỏ mệt mỏi lê từng bước chân về nhà, ông thấy một ông lão chân bước xiêu vẹo băng ngang qua cánh đồng, giấu chặt người sau miếng vải bố để tìm chút hơi ấm. Van Gogh đã lấy quần áo của mình đem cho ông lão và chỉ giữ lại một bộ duy nhất. Ông quyết định sống với khẩu phần lương thực ít ỏi và phân phát tiền lương của mình cho những thợ mỏ khốn khổ ấy.
Có lần, mấy đứa trẻ của một gia đình nọ bị sốt thương hàn, tuy bản thân cũng đang sốt, Van Gogh vẫn nhường giường của mình để bọn trẻ có chỗ nằm.
Một gia đình giàu có trong vùng gợi ý dành riêng cho ông một căn phòng trống để trọ, nhưng Van Gogh từ chối lời để nghị này. Ông nói nếu có thiện chí, gia đình đó nên giúp những người có hoàn cảnh khó khăn hơn.
Những người trước đây thường phản ứng với ông giờ đã hiểu và rất kính trọng ông.
Ông ý thức rất rõ rằng giữa lời nói và hành động có một sự cách biệt khá lớn. Chính cuộc sống và hành động mới là tiếng nói ấn tượng nhất, hơn tất cả mọi lời hoa mỹ. Ông nhận ra dù ở bất cứ nơi đâu, chỉ nên dùng lời nói khi thật cần thiết.
3. Phần chúng ta, là những người được hưởng lòng thương xót một cách nhưng không của Chúa, chúng ta cũng phải biết đem tình thương của mình mà ban phát cho những anh chị em chung quanh chúng ta, bằng cách chia sẻ và gánh lấy những gánh nặng cho nhau.
Ngày kia tại Trung Quốc, một em bé đói rách tiều tụy vì phong cùi, bị dân chúng dùng gậy gộc xua đuổi ra khỏi nơi chôn nhau cắt rốn của em. Trước cảnh tượng đau lòng ấy, một nhà truyền giáo phương Tây đã ẵm em lên để che chở cho em khỏi những gậy gộc vút lên thân mình em và những viên đá phũ phàng ném vào em để xua đuổi em đi. Thấy có người chịu mang em bé đi, dân làng mới thôi, nhưng miệng họ vẫn không ngớt lời kêu la: “Phong hủi, phong hủi, phong hủi, cút đi!”.
Những giọt nước mắt lăn trên gò má em bé, nhưng lần này không phải là những giọt nước mắt đau buồn mà là những giọt nước mắt mừng vui, vì đã có người che chở. Em bé hỏi nhà truyền giáo:
- Tại sao ông lo lắng cho cháu như thế?
Nhà truyền giáo trả lời:
- Vì ông trời đã tạo nên cả hai chúng ta. Em sẽ là em gái của ta và ta sẽ là người anh của em. Từ nay, em sẽ không phải đói khổ và không còn lo không có nơi nương tựa nữa.
Suy nghĩ hồi lâu, em lại hỏi:
- Em phải làm gì?
- Em hãy trao tặng lại cho người khác tình yêu càng nhiều càng tốt - Nhà truyền giáo trả lời:
Kể từ đó đến 03 năm sau, khi em bé tắt hơi thở cuối cùng, em luôn chăm sóc, giúp đỡ, băng bó các vết thương, đút cơm cho các bệnh nhân trong trại cùi mà nhà truyền giáo đã đưa em về đó ở. Khi lìa đời, em mới lên 12 tuổi, và mọi bệnh nhân khác đã kháo láo với nhau:
- Bầu trời bé nhỏ của chúng ta đã về trời!
Vâng! Bầu trời bé nhỏ của chúng ta đã về trời! Ôi đẹp biết chừng nào tình yêu biết chia sẻ cho nhau.
Lm Giuse Đinh Tất Quý
SUY NIỆM 4: CHÚA CHỮA NGƯỜI PHONG HỦI
Chúa đến trần gian. Chúa rao giảng Tin Mừng. Chúa làm các phép lạ là để cứu con người chúng ta. Qua đó, Chúa mang lại hạnh phúc cho con người chúng ta. Chúa không muốn làm những điều tốt đẹp cho con người chúng ta, thay vì được hưởng nhờ mà con người chúng ta lại phải chịu đau khổ. Anh phong hủi mà Chúa chữa lành trong bài Tin Mừng hôm nay nằm trong ý nghũa đó.
Anh đau khổ rất nhiều khi phải mang căn bệnh phong hủi này. Bị người đời xa lánh, xem anh như là một thứ đồ cặn bã của xã hội. Nhơ nhớp, bẩn thỉu, cô đơn, buồn chán, thất vọng, buông xuối bám lấy con người, và cuộc đời của anh. Điều này làm cho anh xấu hổ, mặc cảm, đau đớn vô cùng. Anh chỉ sống cho qua ngày đoạn tháng mà thôi. Vì thế, mơ ước lớn nhất của anh bây giờ là được hết bệnh để anh trở về cuộc sống bình thường như bao người khác.
Nhưng ai là người có thể cứu chữa anh được bây giờ. Chẳng một ai làm được điều này. Có lẽ anh cũng chạy chữa nhiều rồi, nhưng đều vô hiệu. Người ta có thông cảm, có thương tình anh thì cũng chỉ nói một vài lời an ủi hay giúp đỡ một ít đồ ăn thức uống, ít đồng tiền nhỏ nhoi mà thôi. Nhưng cũng chỉ đứng xa xa chứ không dám tới gần vì sợ ô uế.
Trong hoàn cảnh đau thương bi đát thế này, anh vẫn còn một chút hy vọng. Đó là anh nghe ngóng, tìm hiểu trong dư luận dân chúng, họ nói về lòng nhân hậu và quyền năng của Chúa, cho nên khi gặp Chúa đi vào thành rao giảng Tin Mừng thì anh tận dụng ngay cơ hội, không để qua đi mà núi tiếc, cho nênanh sấp mình xuống trước mặt Chúa và van xin khẩn cầu cùng Chúa: “Lạy Thầy, nếu Thầy muốn, Thầy có thể chữa con được sạch” (Lc 5, 12). Anh nói: “Nếu Thầy muôn “, nghĩa là ơn mà anh xin Chúa quá lớn lao, chẳng một ai từ xưa đến nay làm được, mà anh thì tội lỗi, bất xứng, không đáng Chúa thương xót, vì nhiều người còn bệnh tật hơn anh nữa là khác, cho nên anh không dám đòi hỏi Chúa mà chỉ xin Chúa thương ghé mắt nhân từ cứu anh, chữa anh.
Chúa thấy anh tin vào Chúa và có lòng khiêm hạ như vậy, cho nên Chúa chữa anh lành bệnh và Chúa dạy anh đi trình diện các với tư tế và dâng lễ vật như luật Maisen đã dạy (Lc 5, 14), để họ không hoạch hỏi, tra khảo, chất vấn anh vì sao anh được lành bệnh và ai là người cứu chữa anh, vì anh đã đau khổ quá nhiều rồi. Chúa muốn anh mau hòa nhập với sinh hoạt của cồng đồng, và Chúa muốn anh sống hạnh phúc như bao người sau khi lành bệnh.
Lạy Chúa, sau khi Chúa làm phép lạ cứu người phong hủi này, dân chúng kéo đến với Chúa rất đông đảo để nghe Chúa rao giảng để được Chúa chữa tất cả mọi bệnh hoạn trong tinh thần và thể xác (Lc 5, 15). Dân chúng thấy Chúa như là vị cứu tinh của họ nên họ tin vào Chúa và họ tin như vậy là một điều chắc chắn rồi. Họ sẽ thay đổi lối sống để sống tốt hơn, đẹp lòng Chúa hơn. Xin Chúa cho chúng con biết dùng cuộc sống của chúng con, những ân huệ Chúa ban cho chúng con mà chúng con cao rao danh Chúa, rao giảng Chúa cho người khác để họ trở thành con cái của Chúa, mở mang nước Chúa đến mọi tâm hồn, mọi bờ cõi của trái đất: “Trời đất đầy vinh quang Chúa” (Kinh Tiền tụng).
Lm. Micae Võ Thành Nhân
SUY NIỆM 5: NẾU NGÀI MUỐN
Bài Tin Mừng hôm nay cho ta thấy hoàn cảnh đáng thương của người phong cùi. Người cùi này ước mơ được chữa khỏi để hòa nhập với cộng đồng và cuộc sống đời thường như mọi người. Thế nhưng, anh cùi không nài ép Chúa chữa lành mà phụ thuộc vào ý muốn của Thiên Chúa.
Theo quan niệm của người Do Thái, phong cùi là căn bệnh đáng sợ, là hình phạt của Thiên Chúa dành cho người tội lỗi. Bệnh nhân cùi bị loại ra khỏi gia đình, cộng đoàn và xã hội. Họ không được đến gần ai. Họ đi đâu và làm gì cũng phải đeo cái chuông bên mình và hô to “ô uế, ô uế” để mọi người tránh xa. Người cùi tuy còn hơi thở, còn sự sống nhưng thực tế cộng đồng coi họ như đã chết. Chính vì vậy mà, lời cầu xin của anh cùi hôm nay phát ra từ tận cùng của sự đau khổ: “Lạy Ngài, nếu Ngài muốn xin cho tôi được sạch” (Lc 5,12b). Anh không nài ép nhưng để Thiên Chúa tự do thực hiện điều Người muốn. Với lời van xin đầy lòng tín thác tuyệt đối của anh mà Chúa Giêsu đã âu yếm đụng vào thân thể cùi lở của anh. Ngài đã chữa lành và cho anh sự bình an.
Lời cầu xin của anh cùi cũng là mẫu mực cho mỗi Kitô hữu. Anh cùi dạy chúng ta bài học về cầu nguyện với một tâm tình chân thành, khiêm tốn, tín thác nơi Chúa. Cầu nguyện không phải là bắt ép Chúa phải làm theo ý mình nhưng là để Chúa thực hiện điều Người muốn. Vì “Cha anh em biết rõ anh em cần gì trước khi anh em cầu xin” (Mt 6,8). Cầu nguyện là thời gian chúng ta kết hiệp với Thiên Chúa. Chỉ trong đời sống kết hiệp với Chúa, chúng ta mới có thể phục vụ cộng đoàn, phục vụ anh chị em mình cách chân thành vô vị lợi. Như Mẹ Têrêxa Calcututa nói: “Không có tình yêu chân thật với Thiên Chúa, thì không thể chân thành phục vụ tha nhân được”.
Lạy Chúa, xin giúp chúng con nhận ra căn bệnh cùi lở của mình; đó là tội lỗi, tính hư tật xấu,… và biết chạy đến với Chúa để xin ơn chữa lành. Amen.
Tu sĩ Phêrô Trần Văn Diệm, SVD
