THỨ NĂM TUẦN XVIII THƯỜNG NIÊN NĂM A

NGÀY 6/8- LỄ CHÚA HIỂN DUNG

Mt 17,1-9

 

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu

1 Sáu ngày sau, Đức Giê-su đem các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an là em ông Gia-cô-bê đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao.

2 Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng.

3 Và bỗng các ông thấy ông Mô-sê và ông Ê-li-a hiện ra đàm đạo với Người.

4 Bấy giờ, ông Phê-rô thưa với Đức Giê-su rằng: “Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Ngài, một cho ông Mô-sê, và một cho ông Ê-li-a.”

5 Ông còn đang nói, chợt có đám mây sáng ngời bao phủ các ông, và có tiếng từ đám mây phán rằng: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người!”

6 Nghe vậy, các môn đệ kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống đất.

7 Bấy giờ, Đức Giê-su lại gần, chạm vào các ông và bảo: “Chỗi dậy đi, đừng sợ!”

8 Các ông ngước mắt lên, không thấy ai nữa, chỉ còn một mình Đức Giê-su mà thôi.

9 Đang khi thầy trò từ trên núi xuống, Đức Giê-su truyền cho các ông rằng: “Đừng nói cho ai hay thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõichết trỗi dậy.”

 

SUY NIỆM 1: CẢM MẾN CHÚA

Tin Mừng thuật lại việc Chúa Giêsu đưa ba môn đệ thân tín “đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao”, và rồi đột nhiên “biến đổi hình dạng trước mặt các ông”. Sự kiện Đức Giêsu biến hình trên núi cho các môn đệ một cái nhìn rất khác về Người. Một Đức Giêsu thường ngày rất người nay bỗng biến đổi, mặc lấy sự sáng láng, uy quyền của thần linh. Tại sao Đức Giêsu lại dẫn các môn đệ lên núi? Cuộc biến hình có ý nghĩa gì đối với các môn đệ? Sứ mạng của các môn đệ sau cuộc biến hình là gì?

1.   Lên núi để được thật sự gặp Chúa cách riêng tư

Trong Cựu Ước, núi là nơi Chúa gặp gỡ ông Môsê như là vị trung gian giữa Chúa và dân (x. Xh 24,12-18). Núi cao cũng là nơi ưa thích của Chúa Giêsu khi cầu nguyện, giảng dạy, và gặp riêng các môn đệ (x. Mt 5,1; 14,23; 24,3; 28,16; Lc 6,12). Khi ở trên núi cao, các môn đệ rời xa những gì phàm tục, thấp hèn của con người, để tâm hồn các ông hướng về những gì thanh cao, linh thánh; chính nơi đó, các ông khám phá ra một dung mạo khác của Đức Giêsu, dung mạo uy linh, sáng láng của vinh quang Thiên Chúa. Tuy vậy, sự uy nghi, sáng láng của Chúa chỉ có thể được các môn đệ cảm nhận sâu sắc khi lòng các thật sự hướng lên cao, lên những giá trị của “thượng giới” (x. Ga 8,23), như lời thánh Phaolô mời gọi các tín hữu Côlôsê: “Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới” (Cl 3,2).

Quả thế, các môn đệ nhận thấy một dung mạo khác của Chúa Giêsu khi các ông được ở trong một khung cảnh khác với thường ngày, riêng tư hơn, gần Chúa hơn, tĩnh lặng hơn. Khi những xô bồ, bận rộn, lo toan hàng ngày không vây lấy các môn đệ, các ông mới chợt khám phá ra một dung mạo mới của Chúa Giêsu, dung mạo mà lâu nay các ông chưa từng nhận thấy. Hơn nữa, lên núi cao với Chúa, ở riêng với Ngài trong tĩnh lặng của tâm hồn đòi buộc người môn đệ chấp nhận học sống buông bỏ những gì là ồn ào, xô bồ, tranh giành, ghen tị, so đo, tính toán. Bao lâu những thấp hèn, nhỏ nhoi của con người còn đè nặng tâm hồn các môn đệ, các ông khó có thể hướng lòng trí lên những gì thánh thiện, thanh cao, linh thánh. Một khi lòng các môn đệ nhẹ nhàng, thanh thoát thì tâm hồn các ông mới có thể vươn cao để cảm nghiệm và chiêm ngắm một Đức Giêsu vinh quang và uy quyền.

2.   Cảm nếm vinh quang để biết chấp nhận thập giá

Đức Giêsu biến hình vinh quang, sáng láng trên núi có ý nghĩa gì với các môn đệ?

Trước hết, được chiêm ngắm một dung mạo khác của Đức Giêsu là một sự ủi an và khích lệ cho các môn đệ khi mà liền ngay trước cuộc biến hình, các ông vừa nghe Chúa Giêsu loan báo cuộc thương khó (x. Mt 16,21-23), và điều kiện để làm môn đệ là “phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24). Đức Giêsu vinh quang là đích điểm mà người môn đệ hướng tới, là ánh sáng soi đường giúp các ông vượt qua những khó khăn, trở ngại, và là sức mạnh giúp các ông can đảm đón nhận những “thánh giá” của trách nhiệm và sứ vụ.

Thêm vào đó, uy quyền thần linh của Đức Giêsu đã được hai chứng nhân của Cựu Ước chứng thực.[1] Như thế, tất cả Cựu Ước hiện diện để làm chứng về vinh quang của Chúa Giêsu. Tác giả Luca còn đi xa hơn khi cho biết thêm rằng hai chứng nhân Cựu Ước “nói về cuộc xuất hành Người sắp hoàn thành tại Giêrusalem” (Lc 9,31). Vinh quang mà Đức Giêsu tỏ lộ phần nào trên núi chỉ đạt tới sự trọn vẹn thông qua “cuộc xuất hành”, nghĩa là chỉ qua thập giá và cái chết, khuôn mặt vinh quang của Đức Giêsu mới được thể hiện cách đầy đủ và viên mãn nơi mầu nhiệm phục sinh. Để đạt đến vinh quang, người môn đệ Đức Giêsu không thể đi con đường nào khác hơn là “xuất hành” cùng với Đức Giêsu; một khi chịu chết đi cho những mọn hèn, ích kỷ, nhỏ nhen, người môn đệ mới có thể vươn cao và được chia sẻ phần nào vinh quang của Đức Giêsu.

Sau cùng, đối với tác giả thư thứ nhất Phêrô mà chúng ta vừa nghe trong bài đọc I thì hình ảnh một Đức Giêsu đầy vinh quang và quyền năng trong cuộc biến hình trên núi là dấu chứng bảo đảm rằng Người sẽ trở lại trong ngày quang lâm, ngày mà con người được mạc khải cho biết trọn vẹn quyền năng và vinh quang của Đức Giêsu. Và tất cả những ai đang cảm thấy yếu đuối, thất vọng, chán nản vì những bất toàn, khiếm khuyết, nhiễu nhương trong trần gian này, hãy vững tin vào Đấng sẽ đến trong vinh quang sáng láng để ân thưởng cho những ai sống tín trung với Người cho đến cùng.

3.   Xuống núi với những dấn thân mới cho sứ vụ

Cuộc gặp gỡ giữa các môn đệ với Đức Giêsu quyền năng sáng láng làm cho các ông cảm thấy ngất ngây, vui sướng, và muốn giây phút đó kéo dài mãi: “Lạy Chúa, chúng con ở đây thật là hay!” (Mt 16,). Tuy vậy, đối với Chúa Giêsu, mục đích của cuộc biến hình không phải để giữ chân các môn đệ ở trên núi mà tận hưởng vinh quang của Con Thiên Chúa. Các ngài phải trở lại cuộc sống và nhận lấy sứ vụ của người môn đệ. Cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu vinh quang sẽ mất đi giá trị thật sự nếu các môn đệ không xuống núi để đối diện với những thực tại của sứ vụ mà các ông được giao phó. Sứ vụ đó là gì?

Trước sự chứng kiến của các môn đệ, Chúa Cha chứng thực về Chúa Giêsu “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người!” (Mt 17,5). Đây không chỉ là lời chứng thực về bản tính thần linh của Đức Giêsu, mà còn là lời mời gọi “vâng nghe lời Người”; và đó cũng chính là sứ vụ của các môn đệ. Như thế, một khi được cảm nếm vinh quang của Đức Giêsu, Con yêu dấu của Thiên Chúa, các môn đệ cũng được Thiên Chúa trao cho sứ vụ “vâng nghe lời Người”. Vâng nghe lời Đức Giêsu chính là lẽ sống của người môn đệ.

Hơn nữa, khi đứng trước vinh quang rạng ngời của Đức Giêsu, các môn đệ “kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống đất”. Các ông cảm thấy sợ hãi vì chợt nhận ra thân phận thấp hèn, tội lỗi và bất toàn của mình. Lời an ủi và động viên của Đức Giêsu “trỗi dậy đi, đừng sợ!” vừa cho các ông thấy rằng Người vẫn ở bên các ông trong những lúc hoang mang sợ, hãi, vừa cho các ông có thêm can đảm để nhận lấy sứ vụ. Dù phải đối diện với những tầm thường và thấp hèn của phận người, các môn đệ vẫn mang sứ vụ cao cả là làm chứng về uy quyền và vinh quang của Đức Giêsu.

Trong cuộc sống với những bộn bề lo toan, xin cho chúng ta có những giây phút ở riêng với Chúa trên núi, để cảm nếm vinh quang và uy quyền của Đức Giêsu mà biết đón nhận những thập giá trong đời thường, để biết vâng nghe lời Người và trở nên những chứng nhân nhiệt thành cho Người.

Lm. Gioan Baotixita Nguyễn Hữu Duy, SVD

 

SUY NIỆM 2: CÙNG LÊN NÚI CHÚA

Ngày mùng 06 tháng 8 hàng năm, Phụng vụ Giáo Hội mời gọi chúng ta chiêm ngắm một mầu nhiệm vĩ đại, đó là biến cố Chúa Giê-su biến hình và mời gọi chúng ta noi gương các Tông Đồ cố gắng lên núi để được chứng kiến cảnh Chúa Giê-su biến hình, và xin Chúa Thánh Thần hướng dẫn để được biến đổi chính mình hầu lãnh nhận ơn cứu độ.

Lên núi

Hôm nay, thánh sử Mát-thêu nhắc đến việc Chúa Giê-su đưa Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an tới chỗ riêng biệt trên núi cao. Lên tới đỉnh núi, Ba Tông Đồ chứng kiến sự Biến hình của Chúa Ki-tô. Nhưng để chứng kiến cảnh Chúa Biến Hình, các môn đệ phải lên núi. Chúng ta cũng thế, chúng ta cầu mong mình được biến đổi, chúng ta cũng hãy bắt đầu một cuộc hành trình vươn lên hay leo núi, mà cuộc hành trình nào cũng đòi hỏi nỗ lực, hy sinh. Lên tới đỉnh núi, Ba Tông Đồ chứng kiến sự biến hình của Chúa Ki-tô. Bức tranh toàn cảnh này sẽ giúp chúng ta “hiểu rõ hơn về ý muốn của Thiên Chúa và sứ mệnh của chúng ta là phục vụ Vương quốc của Người”.

Xin ơn biến đổi

Đối với chúng ta ngày hôm nay, biến cố Chúa biến hình loan báo trước Mầu Nhiệm Vượt Qua mời gọi chúng ta mở rộng cặp mắt tâm hồn chiêm ngắm Mầu Nhiệm Ánh Sáng của Thiên Chúa trong lịch sử cứu rỗi. Năm Sự Sáng, thứ Ba thì Ngắm, Đức Chúa Giê-su biến hình trên núi, ta hãy xin cho được biến đổi nhờ Chúa Thánh Thần.

Nhưng để biến đổi đâu có dễ, cần phải ơn Chúa Thánh Thần trợ giúp. Chúng ta cũng hãy cầu xin Chúa Thánh Thần hướng dẫn chúng ta từng bước trong cuộng đời, đặc biệt là xin Ngài biến đổi.

Xin Chúa Thánh Thần biến đổi chúng ta từ con người khô khan biếng trễ xưng tội rước lễ, bỏ đọc kinh, lười đi nhà thờ, bỏ lễ Chúa nhật thành người đạo đức, thánh thiện và siêng năng. Xin Chúa Thánh Thần biến đổi chúng ta từ con người tối tăm tội lỗi nên con người tươi sáng; từ con người ích kỷ tham lam thành người sẵn sàng yêu thương hy sinh và phục vụ mọi người; từ con người kiêu căng tự mãn thành người khiêm nhu tin tưởng và phó thác vào Chúa.

Chúa Thánh Thần đã biến đổi các giác quan của các tông đồ, họ mới có thể nhìn thấy vinh quang Thiên Chúa của Chúa Giêsu. Cặp mắt được đổi mới, các ông mới nhìn rõ hơn những gì tỏa sáng, tai được biến đổi để nghe rõ hơn tiếng nói tuyệt vời và có thật: là tiếng nói của của Thiên Chúa Cha, Đấng hài lòng về Con yêu dấu của Ngài.

Chúng ta cũng thế, hãy để Chúa Thánh Thần tác động mới mong được biến đổi, giác quan của chúng ta mới có thể nhìn thấy và nghe được những điều kỳ diệu và vui mừng trong Thiên Chúa cùng với hàng ngũ các thánh đã được Chúa Giê-su phục sinh từ trong cõi chết. Để được biến đổi, hãy vâng nghe Lời Chúa và cầu nguyện

Vâng nghe Lời Chúa

Để được biến đổi, chúng ta phải vâng nghe Lời Chúa. Trong lúc Chúa biến hình thì “có tiếng từ trong đám mây phán rằng: “Đây là Con Ta yêu dấu rất đẹp lòng Ta, các ngươi hãy nghe lời Người” (Mt 17,6). Có vâng nghe lời Chúa Cha, Đức Giê-su mới trở nên người con chí ái đẹp lòng Cha mọi đàng. Nhờ vâng nghe Lời Chúa, chúng ta mới xứng đáng là người môn đệ của Đức Giê-su. Lời Chúa như thanh gươm sắc bén sẽ tỉa sạch các thói hư và biến chúng ta thành những tạo vật mới của Thiên Chúa.

Cầu nguyện

Đang khi cầu nguyện, Chúa Giê-su biến đổi hình dạng trở nên sáng láng. Chúng ta cũng chỉ được biến đổi thân phận tội lỗi của mình bằng việc tha thiết cầu xin Chúa ban ơn trợ giúp và thứ tha. Chúng ta cần đến với Chúa mỗi ngày để được biến đổi trở nên tốt lành thánh thiện hơn. Chẳng hạn như tham dự tĩnh tâm, giục lòng ăn năn sám hối tội lỗi, quyết tâm sửa đổi thói hư tật xấu bằng việc thực hành nhân đức mỗi ngày để đền tội.

Lạy Chúa Thánh Thần, xin biến đổi con. Xin biến đổi con mắt, môi miệng và lỗ tai con, để con biết thấy cái hay cái đẹp của tha nhân, biết nói lời hay lẽ phải, biết nghe Lời Chúa, và nhất là thực hành Lời Chúa dạy, để hưởng được trọn vẹn niềm vui ơn cứu độ. Amen.                                                                                 

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

 

SUY NIỆM 3: LÊN NÚI BIẾN HÌNH

Sau khi từ bỏ mọi sự mà theo Chúa Giê-su và cùng với Người rong ruổi trên các nẻo đường Pa-lét-ti-na để rao giảng Tin mừng, được nghe những lời Chúa giảng, thấy những phép lạ Chúa làm, chứng kiến thái độ yêu – ghét của dân chúng và những nhà lãnh đạo Do-thái dành cho Chúa, nhất là khi nghe thấy Chúa loan báo về việc “Người phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ… bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại” (x. Mt 16,21), các tông đồ bắt đầu lo sợ và đặt ra những vấn nại về Chúa Giê-su và sứ mạng của Người.

Chính trong bối cảnh này, Chúa Giê-su dẫn ba môn đệ thân tín (Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an) lên núi. Người biến hình trước mắt các ông. Cho các ông xem thấy thần tính và dung nhan sáng láng của Người, khiến các ông ngất ngây, thích thú, muốn được sống trong tình trạng sáng láng tốt lành ấy. Ông Mô-sê và Ê-li-a hiện ra đàm đạo với Người. Một đám mây bao phủ các Ngài và có tiếng Chúa Cha giới thiệu: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người”!

Khi suy niệm về sự kiện này, các nhà chú giải cho rằng: Tuy không phải  là chóp đỉnh, nhưng Chúa Biến Hình là một trong những sự kiện quan trọng nhất của Tân ước, vì nó thâu tóm tất cả mạc khải:

– Chúa Giê-su tỏ lộ vinh quang thần linh của mình trong chốc lát vừa xác nhận lời tuyên xưng của Phê-rô (x. Mt 16,16), vừa phê chuẩn mạc khải của Người là muốn bước vào trong vinh quang vĩnh cửu, phải đi qua thập giá tại Giê-ru-sa-lem, nhằm củng cố niềm tin cho các môn đệ trước  biến cố tử nạn.

– Mô-sê và Ê-li-a, những người phát ngôn của Lề Luật và các ngôn sứ trong Cựu Ước đã xuất hiện để giới thiệu Đấng Ki-tô của Tân Ước cho các tông đồ Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an, là những cột trụ của Giáo Hội, có sứ mạng làm chứng và rao giảng Tin mừng cho mọi thụ tạo về một Đấng Ki-tô tử nạn và phục sinh đúng như lời các ngôn sứ đã loan báo.

– Chúa Cha xác nhận Chúa Giê-su là Con yêu dấu của Ngài và mời gọi các tông đồ: “Hãy vâng nghe lời Người“! Hãy vâng nghe Người, vì Người là Con Thiên Chúa và là Ngôi Lời vĩnh cửu, đã trở nên người phàm. Người chính là vị Đại Ngôn Sứ mà tất cả các tiên tri đã loan báo và là Đấng Cứu Độ muôn dân mong đợi theo như lời Chúa hứa. Người không đến để bãi bỏ Lề Luật, nhưng là để kiện toàn và ban cho nhân loại một điều răn mới, đó là giới răn yêu thương: “Yêu thương như Chúa đã yêu. Yêu đến nỗi chết cho người mình yêu” (x. Ga 15,12-13).

– Chúa Biến Hình cho chúng ta được nếm trước việc ngự đến trong vinh quang của Chúa Giê-su, Đấng “sẽ biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người” (x. Pl 3,21). Nhưng được như vậy, chúng ta phải “xuống núi” để chịu lao nhọc, sỉ nhục và chịu đóng đinh ở trần gian cùng với Chúa Giê-su và như Chúa Giê-su. Bởi “Người là Sự Sống, đã xuống thế gian để bị giết; Người là Bánh Hằng Sống đã xuống thế gian để chịu đói; Người là Đường đã xuống thế gian, để chịu mệt nhọc và gục ngã trên đường; Người là nguồn mạch, đã xuống thế gian để chịu khát” (x. Thánh Augustinnô, Sermo 78).

Lạy Chúa Giê-su để củng cố niềm tin cho các môn đệ trước mầu nhiệm tử nạn và để khẳng định rằng “phải qua thập giá mới tới vinh quang”. Chúa đã dẫn ba môn đệ thân tín lên núi biến hình trước mặt các ông, cho các ông xem thấy thần tính và dung nhan sáng ngời của Chúa… Xin cho chúng con biết vâng nghe lời Chúa dạy mà sẵn sàng từ bỏ ý riêng, chết đi cho tội lỗi, thế gian, ma quỉ và xác thịt ở đời này, để mai ngày cùng được phục sinh với Chúa trên thiên đàng. Amen.

Lm. Giuse Nguyễn Văn Hữu

SUY NIỆM 4: CHỐN CỰC LẠC

“Lạy Thầy, chúng con ở đây, thật là hay!”.

“Lạy Chúa, Ngài đem đến gian lao và cũng chính Ngài cất đi mọi nguy khốn. Ngài trừng phạt con bằng bao cực hình tột độ. Nhưng con được bình an, vì Ngài đã kịp chìa cho con cây sào thật đúng lúc để cứu con khỏi dòng nước cuốn. Ôi có Ngài - thiên đàng của con - con không còn đớn hèn bạc nhược vốn chỉ biết say sưa với khoái lạc, kiêu hãnh và dâm ô. Ôi, Giêsu - chốn cực lạc - Ngài giúp con hoàn thành những dự án giá trị và khả thi trong đời!” - Paul Verlaine.

Kính thưa Anh Chị em,

Như Paul Verlaine, ba môn đệ trên núi Taborê xem ra cũng được Chúa Giêsu chìa cho cây sào thật đúng lúc khi lòng họ đang rối loạn vì những gì Ngài nói về cuộc thương khó sắp tới. Phêrô, Giacôbê và Gioan hạnh phúc tột độ khi Ngài biến hình sáng láng trước mặt họ, một phép lạ chưa từng thấy! Với họ, Taborê, một ‘chốn cực lạc’ ngọt ngào!

Vậy mà cuộc Hiển Dung trên núi được mừng kính hôm nay vẫn không phải là một phép lạ! Tại sao? Vì đã có một phép lạ ‘thực sự’ và ‘thường xuyên’ khi Con Thiên Chúa ‘duy trì’ một sự xuất hiện trong dáng vẻ bình thường của một phàm nhân trên những nẻo đường Palestina! Qua đó, các môn đệ và những người đương thời đã chiêm ngắm Ngài, ‘chốn cực lạc’ - ‘thiên đàng hạ thế!’.

Kỳ diệu thay! Trên những con đường ấy, những con đường triền đồi đầy đá và những thung lũng lặng lẽ của Đất Thánh, khuôn mặt của Thiên Tử Giêsu đã ‘không bừng sáng’ như mặt trời. Sự bình thường của ‘nhân tính’ Ngài kín kẽ bền vững, che khuất thường xuyên ‘thiên tính’ rạng rỡ của Ngài. Đó là phép lạ của sự khiêm nhường, phép lạ của sự hạ mình với ơn gọi nhập thể, ngôn sứ, chịu đau khổ và chết đi cho nhân loại. Và này, Ngài sẽ lên trời - ‘chốn cực lạc’ - kéo nhân loại mà Ngài đến để đem về nơi nó phải về.

Đaniel tiên báo ‘chốn cực lạc’ ngọt ngào ấy, nơi mà toà cao cả của Thiên Chúa rạng ngời uy nghi - bài đọc một. Đấng Lão Thành là hình ảnh Chúa Cha, “Tôi thấy có ai như Con Người đang ngự giá mây trời mà đến. Người tiến lại gần bên Đấng Lão Thành”. Thánh Vịnh đáp ca reo lên, “Chúa là Vua Hiển Trị, là Đấng cao cả trên khắp địa cầu!”.

Phêrô cũng xác tín những gì đã chứng kiến trên núi ngày ấy - bài đọc hai. Đức Kitô mà Phêrô và các tông đồ rao giảng không phải là chuyện hoang đường, nhưng là một Thiên Chúa làm người, “Chúng tôi đã được chứng kiến nhãn tiền sự uy nghi của Người”. Phêrô quả quyết đã nghe tiếng Chúa Cha trên núi ngày ấy, “Hãy nghe lời Người!”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Lạy Thầy, chúng con ở đây, thật là hay!”. “Ở đây” là ở với Chúa Giêsu, trong Chúa Giêsu, một Đức Giêsu Kitô Phục Sinh cho dẫu Ngài phải trải qua đau khổ, thập giá và sự chết. Sự kiện Biến Hình mang đến cho chúng ta một thông điệp hy vọng; mời gọi chúng ta ước ao sống với Chúa Giêsu, ở lại với Ngài ngay hôm nay qua những anh chị em mà chúng ta phục vụ; mời gọi chúng ta vượt qua khổ đau, đừng quá gắn bó với những gì trần tục, để thực hiện một hành trình hướng về thiên đàng, chiêm ngưỡng Chúa Giêsu đời đời. Vì thiên đàng chính là Ngài, ‘chốn cực lạc’, một con người, hơn là một địa điểm!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, giữa biển đời dậy sóng khổ đau, cho con biết cố sức bơi về ‘chốn cực lạc’ Giêsu; ở đó, Ngài đang đợi để kịp chìa cho con cây sào!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 

SUY NIỆM 5: CHÚA HIỂN DUNG 

Trong Cựu Ước, con người đã phạm tội và cắt đứt mối dây liên kết với Thiên Chúa. Nhưng Thiên Chúa vẫn không bỏ rơi con người mà hứa sẽ ban một Vị Cứu Tinh để giải thoát họ khỏi tội lỗi và cái chết. Thật vậy, Đức Giê-su, Đấng vốn là Thiên Chúa, đã từ bỏ ngai tòa cao sang nhập thể để đến với nhân loại. Thế nhưng ta thử hỏi, thời điểm Chúa xuống thế và ở với loài người thì có mấy ai nhận ra Chúa là Con Thiên Chúa? Có mấy ai cảm nhận được tình thương Chúa qua những lời rao giảng của Người? Thậm chí qua những phép lạ Chúa làm, có mấy ai thực sự tin Chúa là Đấng phải đến để cứu độ nhân loại? Đúng là “Người đã đến nhà mình những người nhà chẳng chịu đón nhận (Ga 1,11). Quả vậy, rất ít người nhận ra Chúa khi Người ở với họ, khi Người đi đó đây rao giảng Tin Mừng; và cũng rất ít người tin vào Chúa là Đấng cứu chuộc nhân loại khi Người làm những dấu lạ. Ngày lễ Hiển Dung hôm nay, Giáo Hội mừng biến cố Chúa biến hình trên núi. Ba môn đệ Phê-rô, Gio-an và Gia-cô-bê thật diễm phúc khi được Chúa cho nhìn thấy. Qua cuộc hiển dung này, Chúa Giê-su muốn mặc khải điều gì cho con người?

1.   Chúa hiển dung, Người muốn mặc khải điều gì?

Chúa hiển dung có nghĩa là Thiên Chúa mặc khải hay tỏ lộ hình ảnh về Người. Trong Cựu Ước, sau khi con người phạm tội, Thiên Chúa không bỏ rơi nhưng vẫn tỏ lộ cho con người biết Người là tình yêu bằng cách đồng hành và nâng đỡ họ. Cụ thể, qua những gì dân Ít-ra-en được Thiên Chúa tỏ lộ, họ đã có một niềm xác tin về Thiên Chúa mà họ tôn thờ. Trong bài đọc một, tác giả sách Đệ Nhị Luật viết lại lời ông Mô-sê nói với dân Ít-ra-en về Thiên Chúa, nói về sự hiểu biết Thiên Chúa và niềm tin vào Đấng mà họ tôn thờ. Ông Mô-sê xác tín rằng: “Thiên Chúa của anh em, thật là Thiên Chúa” (Đnl 7,9), làm Chủ cõi trời và các tầng trời cao nhất, cõi đất và muôn loài trong đó” (Đnl 10,14). Đây là một lời xác tín thật mãnh liệt của dân Ít-ra-en về niềm tin của họ về Thiên Chúa. Họ tin có một Thiên Chúa là căn nguyên của vạn vật, Người có quyền năng trên mọi sự. Qua đó, họ chỉ tin vào Thiên Chúa, ngoài Người ra chẳng có Thiên Chúa nào khác. Thêm nữa, ông còn nói thêm cho dân biết: “Thiên Chúa của anh em còn là một Thiên Chúa trung thành, cho đến ngàn thế hệ” (Đnl 7,9) và nếu ai “giữ các mệnh lệnh của người thì sẽ được hạnh phúc” (Đnl 10,13). Dân Ít-ra-en là dân được Chúa chọn nhưng thường bất trung với Chúa và đi ngược lại với những huấn lệnh của Người. Nhưng Thiên Chúa thì không, Người luôn giữ giao ước và là Đấng đi bước trước để hàn gắn những đổ vỡ mà họ đã gây ra.

Đến thời Tân Ước, Thiên Chúa tiếp tục tỏ lộ tình thương và thực hiện lời hứa từ ngàn xưa cho con người qua Con Một duy nhất của Người là Đức Giê-su Ki-tô. Trong bài Tin Mừng, thánh Lu-ca thuật lại việc Đức Giê-su dẫn ba môn đệ Phê-rô, Gio-an và Gia-cô-bê lên núi cầu nguyện. Nơi đây, trong lúc cầu nguyện, Đức Giê-su cho các ông thấy sự hiển dung của Người, “dung mạo Người bỗng đổi khác, y phục Người trở nên trắng tinh chói loà” (Lc 9,29). Từ lúc thu nạp các môn đệ đến trước khi hiển dung, Đức Giê-su nhận thấy tâm trí các môn đệ vẫn còn u tối và niềm tin vào Người chưa vững chắc. Não trạng các ông theo Chúa cũng chỉ để mong cho mình có một chỗ đứng và địa vị cao sang. Không một ai trong các ông nhận ra Thầy mình đang ở cùng, sống với họ là ai? Qua cuộc hiển dung, Đức Giê-su cho các ông nhận ra Người là Thiên Chúa thật, là Đấng mà nhiều ngôn sứ đã loan báo và muôn người đang chờ mong. Hơn nữa, Chúa còn cho các ông được diễm phúc nhìn thấy hai vị chứng nhân thời Cựu Ước là ông Mô-sê và ông Ê-li-a, hai vị hiện ra “rạng ngời vinh hiển và nói về cuộc xuất hành” (Lc 9,31). Cuộc xuất hành là dấu chỉ báo trước cuộc thương khó mà Chúa phải trải qua. Qua cuộc thương khó, Đức Giê-su sẽ lập lại giao ước mới với con người hầu cứu thoát con người khỏi sự chết. Ắt hẳn, cuộc thương khó nào cũng đều mang những đau đớn và sự hy sinh rất lớn. Qua đó, Đức Giê-su cho các ông nhận ra rằng, tuy là Con Thiên Chúa, là Đấng toàn năng, nhưng vì yêu thương nhân loại, Đức Giê-su chẳng nề sự đau đớn cùng cực nào hầu cứu con người khỏi chết. Như thế, Thiên Chúa vẫn luôn trung thành với lời Người đã hứa từ ngàn xưa, và lời hứa ấy đã được thực hiện nơi Con của Người là Đức Giê-su Ki-tô để cho con người được hạnh phúc.

2.   Chúa hiển dung, củng cố niềm tin nơi các môn đệ

Ba môn đệ Phê-rô, Gio-an và Gia-cô-bê diễm phúc được Chúa cho thấy sự hiển dung của Người. Các ông được thấy một chút vinh quang Thiên Chúa mà họ đã từng được nghe từ Thầy mình. Sau khi chứng kiến những điều ấy, các ông “nín thinh và không kể lại cho ai biết gì cả về những điều mình đã thấy” (Lc 9,36). Các ông nín thinh là để dành thời gian ngẫm nghĩ lại những gì đã trải qua. Đối với các ông, đây quả là một kinh nghiệm quý báu và lời chứng có tính quyết định và sẽ giúp các ông vững tin hơn trên con đường theo chân Chúa. Như vậy, ba môn đệ lên núi với Chúa hôm nay đại diện cho niềm tin của những người đi theo Chúa. Sau khi Chúa chịu khổ nạn và phục sinh, họ đã không nản chí nhưng vẫn tin tưởng vào Người. Thậm chí, sau những bách hại vì Chúa, niềm tin của họ càng được củng cố hơn. Bởi lẽ, họ tin Đức Giê-su là Thiên Chúa thật, Đấng cứu tinh của nhân loại.

3.   Chúa hiển dung có ý nghĩa gì đối với chúng ta hôm nay

Ngày nay, con người bị vây quanh bởi nhiều thứ bên ngoài như tình cảm, công danh, sự nghiệp… Họ bận tâm nhiều những thứ đó mà không có thời gian chăm sóc con người bên trong, tức tâm hồn của mình. Bên cạnh đó, hầu như ai ai cũng muốn phần tốt về cho mình mà không muốn cái thiệt. Một khi không đạt được điều mình muốn, cuộc sống của họ thường bị đảo lộn và bất ổn. Quả vậy, với lối sống ấy, nhiều chuyện không hay đã xảy ra như xung đột giữa các thành viên trong gia đình cho đến chiến tranh giữa các quốc gia với nhau… Nguyên nhân xảy ra như thế, một phần là do con người sống ích kỉ, nhưng phần lớn là do con người gạt Chúa ra khỏi cuộc đời mình. Họ không tin Chúa là “thành luỹ cho họ nương ẩn” (x. Tv 16).

Là Ki-tô hữu, chúng ta được Đức Giê-su, Con Thiên Chúa mời gọi hãy tạm gác những thứ bên ngoài, lên núi với Chúa để đi vào cuộc sống thần linh với Người. Trong không gian tĩnh lặng của núi đồi, chúng ta được Chúa hiển dung cho nghỉ ngơi và nhận ra được chân lý đích thực. Như các môn đệ xưa, nhờ cuộc hiển dung, chúng ta nhận ra cuộc sống đích thực không phải ở đời này mà là đời sau, nhờ đó ta thêm lòng mộ mến những sự trên trời. Bên cạnh đó, nhờ cuộc hiển dung, chúng ta tin Đức Giê-su là Con Thiên Chúa, Đấng Thiên Sai cứu độ muôn người. Nếu xác tín điều đó, niềm tin của chúng ta sẽ không bị lung lay dù phải đối diện với nhiều vấn đề trong cuộc sống. Hơn nữa, nhờ Chúa hiển dung, chúng ta dễ dàng đón nhận những giáo huấn từ Chúa, nhờ đó chúng ta sẽ không bị lạc lối. Hơn nữa, nhờ Chúa hiển dung, chúng ta đủ sức để làm chứng cho Tin Mừng của Chúa, bằng cách sống hy sinh và đem tình yêu đến với tha nhân.

Lạy Chúa, Chúa luôn yêu thương, đồng hành và nâng đỡ chúng con trong mọi biến cố cuộc sống. Nhưng nhiều khi chúng con với thân phận yếu đuối, đã phạm tội và xa lìa Chúa, xin Chúa đoái thương và tha thứ. Xin Chúa cũng ban thêm niềm tin, để khi đứng trước những khó khăn cuộc đời, chúng con vẫn tin cậy vào Chúa, là Thiên Chúa thật, Đấng đến làm cho cuộc đời chúng con được hạnh phúc. Amen.

Tu sĩ Giuse Trần Văn Hiếu, SVD