THỨ NĂM TUẦN XIV THƯỜNG NIÊN NĂM A

Mt 10,7-15

 

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu

Khi ấy, Ðức Giêsu nói với các môn đệ rằng: “Dọc đường hãy rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần.

Anh em hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong hủi được sạch bệnh, và khử trừ ma quỷ.

Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy. Đừng kiếm vàng bạc hay tiền giắt lưng.

10 Đi đường, đừng mang bao bị, đừng mặc hai áo, đừng đi dép hay cầm gậy. 11 Vì thợ thì đáng được nuôi ăn.

12 Khi anh em vào bất cứ thành nào hay làng nào, thì hãy dò hỏi xem ở đó ai là người xứng đáng, và hãy ở lại đó cho đến lúc ra đi.

13 Vào nhà nào, anh em hãy chào chúc bình an cho nhà ấy. 14 Nếu nhà ấy xứng đáng, thì bình an của anh em sẽ đến với họ; còn nếu nhà ấy không xứng đáng, thì bình an của anh em sẽ trở về với anh em.

15 Nếu người ta không đón tiếp và nghe lời anh em, thì khi ra khỏi nhà hay thành ấy, anh em hãy giũ bụi chân lại. Thầy bảo thật anh em, trong Ngày phán xét, đất Xơđôm và Gômôra còn được xử khoan hồng hơn thành đó.”

 

SUY NIỆM 1: RA ĐI MANG TIN MỪNG NƯỚC TRỜI

Tình yêu trung thành của Thiên Chúa dành cho con cái Israel được diễn tả trong những ngôn từ đầy cảm xúc trong bài đọc 1 hôm nay. Đức Chúa đã yêu Israel ngay từ thời niên thiếu; Ngài đã chọn, đã gọi, đã dẫn dắt và đối xử đầy yêu thương với Israel: “Khi Israel còn non trẻ, Ta đã yêu nó, từ Aicập Ta đã gọi con Ta về. Ta đã tập đi cho Épraim, đã đỡ cánh tay nó, nhưng chúng không hiểu là Ta chữa lành chúng. Ta lấy dây nhân nghĩa, lấy mối ân tình mà lôi kéo chúng. Ta xử với chúng như người nựng trẻ thơ, nâng lên áp vào má; Ta cúi xuống gần nó mà đút cho nó ăn” (Hs 11:1-4). Với tình yêu tràn đầy và sâu đậm, Đức Chúa đã yêu thương Israel. Ngài mong ước Israel đáp trả lại với tình yêu. Nhưng Israel đã không chịu về với Đức Chúa (x. Hs 11:5c). Nhưng dù cho Israel không trở về với Ngài, Đức Chúa vẫnn trung thành với tình yêu của Ngài: “Hỡi Épraim, Ta từ chối ngươi sao nổi! Hỡi Israel, Ta trao nộp ngươi sao đành! Trái tim Ta thổn thức, ruột gan Ta bồi hồi. Ta sẽ không hành động theo cơn nóng giận, sẽ không tiêu diệt Épraim nữa, vì Ta là Thiên Chúa, chứ không phải người phàm. Ở giữa ngươi, Ta là Đấng Thánh, và Ta sẽ không đến trong cơn thịnh nộ” (Hs 11:8ac-9). Hình ảnh trung thành của Thiên Chúa làm chúng ta nhìn lại tình yêu của mình dành cho Ngài. Trong cuộc sống thường ngày, chúng ta biết và cảm nghiệm cách sâu xa tình yêu Thiên Chúa. Chúng ta biết Ngài yêu chúng ta ngay từ khi chúng ta vừa mới hình thành trong dạ mẫu thân; Ngài đồng hành với chúng ta qua từng ngày sống với tình yêu quan phòng của Ngài; Ngài nâng niu, ấp ủ chúng ta như mẹ hiền ấp ủ con thơ. Nhưng nhiều lần chúng ta đã không đáp lại tình Ngài. Chúng ta đặt tình yêu của mình vào những thứ chóng qua của trần thế. Dù chúng ta không trung thành với Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa luôn trung thành với tình yêu của Ngài dành cho chúng ta. Hãy trở về và để tình yêu trung thành của Thiên Chúa chiếm lấy chúng ta!

Chúng ta đã nghe trong bài Tin Mừng hôm qua về việc Chúa Giêsu dạy các môn đệ phải đi rao giảng ở đâu [“Anh em đừng đi tới các vùng dân ngoại, cũng đừng vào thành nào của người Samari”] và rao giảng cho ai [“đến với các con chiên lạc Israel”]. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu tiếp tục dạy các môn đệ phải rao giảng gì: “Nước Trời đã đến gần” (Mt 10:7), và phải làm gì: “Anh em hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết trỗi dậy, cho người mắc bệnh phong được sạch, và khử trừ ma quỷ. Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy. Đừng kiếm vàng bạc hay tiền đồng để giắt lưng. Đi đường, đừng mang bao bị, đừng mặc hai áo, đừng đi giày dép hay cầm gậy. Vì thợ thì đáng được nuôi ăn” (Mt 10:8-10). Nếu để ý, chúng ta nhận ra rằng sứ điệp các môn đệ rao giảng chính là sứ điệp về Nước Trời mà Gioan Tẩy Giả và Chúa Giêsu đã rao giảng. Điều này cho thấy họ không rao giảng sứ điệp của chính mình, nhưng chỉ rao giảng sứ điệp mà Thiên Chúa muốn. Đây là chi tiết đầu tiên chúng ta cần suy gẫm trong bài Tin Mừng hôm nay. Ai trong chúng ta cũng được mời gọi để rao giảng sứ điệp Nước Trời qua lời nói và hành động. Tuy nhiên, chúng ta phải ý thức rằng, sứ điệp chúng ta rao giảng là sứ điệp mà Chúa Giêsu đã rao giảng. Nói cách khác, lời ăn tiếng nói và hành động của chúng ta phải giống với Chúa Giêsu. Chúng ta đã thực hiện điều này như thế nào?

Trong phần 1 nói về những điều cần phải làm, Thánh Mátthêu dường như dùng một câu trích từ thư của Thánh Phaolô (x. Rm 3:24; 2 Cr 11:7). Câu “anh em đã được cho không” nói về sự thật của ơn cứu độ là điều rất quan trọng cho hết mọi người mà các môn đệ phải rao giảng dù người nghe của họ là ai và người nghe có khả năng để trả tiền hay không. Câu này được cân bằng bởi câu 10b: “thợ thì đáng được trả công.” Câu 10b ám chỉ việc người tông đồ cần phải sống, nhưng sống trên sự “bố thí” mà người khác trả cho. Sự đối kháng giữa hai nguyên tắc này [cho không-đáng được trả] không tuyệt đối, nhưng chúng rất khó để cân bằng trong đời sống thực tế. Thực tế cho thấy, nhiều người luôn cho không, phục vụ hết mình, nhưng đến một lúc nào đó lại thấy khó chịu, rồi tự hỏi: tại sao tôi phải làm trong khi người khác lại “ngồi chơi sơi nước.” Từ đó, chúng ta bắt đầu so đo tính toán “chi li.” Hệ quả là chúng ta bắt đầu đòi được “trả công,” không phải [chỉ] bằng tiền, nhưng bằng những tiếng khen, những tràng pháo tay. Hai nguyên tắc này chỉ được cân bằng khi người môn đệ có Chúa: người môn đệ cho không mọi sự để được Thiên Chúa trả công!

Trong hành trình rao giảng, Chúa Giêsu đưa ra cho các môn đệ một danh sách những vật dụng mà họ cần cho hành trình rao giảng. Những thứ này là những gì cần thiết cho một chuyến đi: “Đừng kiếm vàng bạc hay tiền đồng để giắt lưng. Đi đường, đừng mang bao bị, đừng mặc hai áo, đừng đi giày dép hay cầm gậy.” Danh sách này có điểm khác biệt so với bản văn tương ứng trong Tin Mừng Thánh Máccô (6:8-11). Trong Tin Mừng Thánh Máccô, các môn đệ được mang giày và gậy [để đuổi thú dữ và kẻ cướp]. Thánh Mátthêu trình bày việc Chúa Giêsu đưa ra luật khắt khe này nhằm mục đích nhấn mạnh đến sự khẩn cấp của sứ mệnh. Chi tiết này bổ sung cho ý trên, đó là cho nhưng không và nhận những gì người khác ban tặng. Điều này nhắc nhở chúng ta rằng khi đi rao giảng, chúng ta không tìm kiếm hay mong ước người khác trả công cho mình bằng “vàng bạc” hay “tiền đồng để giắt lưng.” Chúng ta tìm kiếm Nước Thiên Chúa trước, còn những sự khác sẽ ban cho chúng ta sau. Không có một sự trả công nào đẹp cho bằng thấy những người chúng ta phục vụ được hạnh phúc và đạt đến ơn cứu độ.

Phần 2 tập trung vào việc các môn đệ phải làm trong khi rao giảng. Việc Chúa Giêsu dặn các môn đệ vào bất cứ thành nào hay làng nào ám chỉ việc các môn đệ phải lệ thuộc vào sự quảng đại và đón nhận của người địa phương. Họ chia sẻ trong cuộc sống của người dân, những người mà họ được sai đến – với tất cả những nguy hiểm và bất tiện trong cuộc sống mà việc rao giảng đòi hỏi. Khi sống với những người được sai đến, người môn đệ phải trở thành sứ giả của bình an: “Vào nhà nào, anh em hãy chào chúc bình an cho nhà ấy. Nếu nhà ấy xứng đáng, thì bình an của anh em sẽ đến với họ; còn nếu nhà ấy không xứng đáng, thì bình an của anh em sẽ trở về với anh em” (Mt 10:12-13). Xây dựng bình an là một trong các mối phúc thật: “Phúc cho những ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa” (Mt 5:9). Khi đem bình an đến cho người khác, chúng ta không chỉ đơn giản là người môn đệ của Chúa Giêsu, nhưng còn là người con của Thiên Chúa. Hãy là người mang bình an, hoà bình cho người khác. Đừng là nguyên nhân chia rẽ!

Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB

SUY NIỆM 2: 

“Dọc đường, anh em hãy rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần.” 

Chúa sai Nhóm 12 đi làm sứ mạng. Chúa Giêsu căn dặn các ông rất nhiều về chuyện đừng làm gì và phải làm gì. Còn về nội dung lời rao giảng, Ngài chỉ gói gọn trong có một câu: “Anh em hãy rao giảng rằng Nước Trời đã đến gần.” 

Nước Trời, hay Nước Thiên Chúa là trọng tâm của mọi lời rao giảng và mọi hoạt động trong sứ mạng của Chúa Giêsu và của các tông đồ.

Rất tiếc nhiều khi trong đời sống Giáo Hội, chúng ta không ‘vươn’ tới Nước Trời. Mặc cho Nước Trời ‘đã đến gần’ hay đúng hơn ‘đã có mặt’. Ta thích đẩy Nước Trời lên tít… trên trời, như thể nước trời để dành cho ‘đời sau’, còn bây giờ thì chúng ta lo chuẩn bị cho ‘Nước Trời đời sau’ đó chủ yếu bằng những việc bên trong vành đai nhà thờ này mà thôi. 

Thực ra Nước trời là gì? Nước Trời không phải là nước ở trên trời, nơi chỉ dành cho những người đã chết. Cũng không phải là Nước Chúa sẽ lập ở đời sau, khi thế gian này đã qua đi. Nhưng theo sự diễn tả của Chúa Giêsu thì Nước trời phải được thực hiện ngay trong chính cuộc sống hiện tại này, với tất cả những khung cảnh của một xã hội trần thế. Vì thế mà ngoài việc rao giảng Tin mừng, các môn đệ cũng được Chúa Giêsu sai đi để phục vụ con người toàn diện, nhất là những người đau ốm, những kẻ cô thế, những người bị đàn áp bóc lột.

Ước gì mỗi sáng thức dậy, chúng ta vẫn nghe lời Chúa truyền: “Các con hãy ra đi và loan báo: nước trời đã gần kề.” và trong suốt ngày sống, chúng ta biết thực thi Lời Chúa: Ra đi để xây dựng Nước Chúa, xây dựng tình người, xây dựng tình liên đới và xây dựng hoà bình trong môi trường chúng ta sống. Và như vậy chính là xây dựng nước Trời.

Lm. Phaolô Vũ Đức Vượng  

 

SUY NIỆM 3: ĐƯỢC CHO NHƯNG KHÔNG, PHẢI CHO NHƯNG KHÔNG

Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu sai 12 Tông Đồ đi rao giảng Nước Trời với những lời dặn dò ân cần, thắm thiết: “Anh em hãy đến với các con chiên lạc nhà Israel. Dọc đường hãy rao giảng rằng Nước Trời đã đến gần. Anh em hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết trỗi dậy, cho người mắc bệnh phong được sạch, và khử trừ ma quỷ. Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy”.

Hình ảnh này gợi cho chúng ta nhớ về bầu khí gia đình khi có một thành viên phải đi xa, chẳng hạn đi làm xa, đi bộ đội, đi lấy chồng, hay đi tu… thì các bậc cha mẹ thường xúc động, nước mắt ngắn dài, ân cần nhắn nhủ con đủ điều. Mong thông truyền hết tình thương, kinh nghiệm sống nhằm giúp con an tâm, vững bước và thành đạt trong môi trường mới.

Khi sai các Tông Đồ đi rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu cũng mang tâm tình của một người cha mẹ, một người thầy, ân cần lo lắng cho các môn đệ trước lúc lên đường thi hành sứ vụ.

Trong lần thi hành sứ vụ đầu tiên này, các Tông Đồ được sai đến với chiên lạc nhà Israen, tức là đến với những người Do Thái đồng hương. Để loan giảng rằng triều đại Thiên Chúa đã đến rồi. Đấng Mêsia cứu thế mà dân Do Thái mong đợi hiện đang ở giữa họ. Đấng ấy chính là Đức Giêsu, thành Nadarét.

Chúa Giêsu chỉ thị cho các Tông Đồ rằng: Đừng kiếm vàng bạc hay tiền đồng giắt lưng. Đi đường, đừng mang bao bị. Đừng mặc hai áo, đừng đi giày dép hay cầm gậy… Điều ấy nói lên tính cấp bách của công cuộc loan Tin Mừng. Đòi người môn đệ phải có sự dứt khoát, không dính bén, không quá lệ thuộc vào tiền bạc vật chất đời này. Bởi làm sao người môn đệ có thể mau mắn, toàn tâm và hăng say loan Tin Mừng, trong khi bị của cải trói buộc? Đừng tìm, đừng mang theo vật chất không có nghĩa là vô lo, nhưng là thể hiện lòng tín thác nơi Chúa. Người môn đệ mang Chúa- nguồn an vui cứu rỗi- thế là đủ rồi.

Chúa dạy các môn đệ: “Vào nhà nào hãy chúc bình an cho nhà ấy”. Làm sao người loan Tin Mừng có thể cho người khác điều mình không có? Làm sao chúng ta có thể trao bình an của Chúa cho người khác khi bản thân mình chưa có? 

Thiết nghĩ, loan báo Tin Mừng không gì khác hơn là trao tặng bình an của Chúa cho tha nhân. Bằng không, chúng ta chỉ mang cho tha nhân những sự bất hạnh: cằn nhằn, soi mói, lầm lạc, và không đem lại ơn cứu độ.

Chuyện kể rằng một chiều nọ, trước giờ dâng lễ, cậu bé giúp lễ, người Nam tư, có tên Thánh là Joseph chăm chỉ đi sớm rồi mở tủ buồng áo ra để dọn đồ lễ. 

Nhưng cậu bé lỡ tay làm rớt chiếc bình đựng rượu lễ bằng thủy tinh. Chiếc bình nát tươm. Rượu bắn tung toé. Mảnh vỡ rơi vãi khắp nơi, bắn vào chân cậu, làm chân cậu bị chảy máu.

Cha xứ ngồi ghế xa xa chứng kiến.

Mặt cậu bé tái mét, hoảng loạn, lo sợ, thất thần.

Lập tức cha xứ đứng dậy tiến nhanh về phía cậu. Cậu lại càng lo lắng hơn vì sợ cha mắng.

Cha xứ bực tức la mắng cậu thậm tệ, xối xả: nào là vụng về, vô tích sự, bất cẩn, hấp tấp, phá hoại, làm không nên hồn… 

Cậu bé lập tức đứng dậy bỏ đi, vừa đi vừa khóc, trong tuyệt vọng, uất hận với những lời sỉ vả của cha xứ.

Từ hôm đó trở đi cậu đã bỏ giúp lễ, bỏ cha xứ, bỏ bạn bè.

Không dừng lại ở đó, cậu còn bỏ dự lễ, bỏ Nhà thờ, và cuối cùng là bỏ Đạo.

Vẫn chưa hết, cậu đã nỗ lực nghiên cứu triết học vô thần, tham gia chính trị, gia nhập Đảng Cộng sản, rồi leo lên những chức vụ cao để chống lại Đạo Công giáo một cách khốc liệt dữ dội.

Điều đau lòng hơn nữa là, cả cha mẹ và gia đình cậu bé đáng thương này cũng đã bỏ Đạo.

Cậu bé đã nuôi hận thù từ sự nhục mạ mắng nhiếc của cha xứ mình hồi còn thơ bé.

Cậu bé đó có tên là Joseph Broz Tito người Nam Tư.

Cậu bé đó chính là Tổng bí thư- lãnh tụ độc tài tàn ác của Đảng cộng sản Nam Tư mang tên Tito.

Một câu chuyện khác cũng kể về một cậu bé giúp lễ, người Hoa kỳ, có tên Thánh là John. Cậu chăm chỉ đi sớm, rồi mở tủ buồng áo ra để dọn đồ lễ. 

Do sơ ý cậu lỡ tay làm rớt chiếc bình đựng rượu lễ bằng thủy tinh. Chiếc bình nát tươm. Rượu bắn tung toé. Mảnh vỡ rơi vãi khắp nơi.

Cha xứ ngồi ghế xa xa chứng kiến.

Mặt cậu bé tái mét, hoảng loạn, lo sợ, thất thần.

Lập tức cha xứ đứng dậy tiến nhanh về phía cậu. Cậu lại càng lo lắng hơn vì sợ cha mắng.

Nhưng thật không ngờ. 

Thay vì la mắng thì cha lại nhẹ nhàng vỗ vai bảo cậu không sao đâu, vỡ rồi thì thôi! Cha lại còn lo lắng hỏi cậu có ổn không, nhắc cậu cẩn thận không mảnh sành đâm vào chân và ân cần bảo cậu hãy mau dọn đi, rồi bảo ông trùm chuẩn bị bình rượu lễ khác cho Thánh Lễ.

Cậu bé nói lời xin lỗi cha, thở phào nhẹ nhõm, khắc sâu, nhớ mãi và rất nể phục cách cư xử rất tế nhị ấm áp và tràn yêu thương của cha xứ mình.

Từ hôm đó trở đi, cậu bé ngày càng chăm chỉ, ngoan ngoãn, khéo léo, nhanh nhẹn, sốt sắng, thành tâm với việc nhà Chúa. 

Rồi cậu đã quyết tâm theo cha xứ đi tu, làm Thầy, làm Linh mục thánh thiện, làm Nhà thần học nổi tiếng, làm Nhà giảng thuyết vĩ đại, làm Giám mục uyên bác.

Không những thế, cậu còn làm Tổng Giám mục đại tài, làm Hồng y xuất chúng, làm Đấng đáng kính và cuối cùng sẽ làm Thánh.

Cậu bé đó có tên là Fulton John Sheen, một trong những nhà thần học trỗi vượt nổi danh nhất người Hoa Kỳ, được hàng triệu trái tim thán phục ngưỡng mộ suốt thế kỷ XX.

Cậu bé đó là chính Đấng đáng kính Fulton John Sheen đang trong quá trình phong Thánh.

Hai câu chuyện trên có thể giúp chúng ta duyệt xét lại cuộc sống của chính mình, cách cư xử của mình với tha nhân: với tư cách là Kitô hữu, chúng ta đang mang Tin Mừng cứu độ, bình an, yêu thương hy vọng của Chúa hay chúng ta đang mang khổ đau, thù hận, bất an, bất hạnh cho anh chị em mình?

Nguyện xin Chúa giúp chúng con biết đem Chúa vào đời ngang qua những hành vi khiêm nhường phục vụ. Amen 

Lasan Ngô Văn Vỹ, O.Cist

 

SUY NIỆM 4: CHÚA HUẤN DỤ CÁC TÔNG ĐỒ

1. Sau khi gọi 12 Tông đồ lại, ban cho các ông được quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền, Chúa Giêsu huấn dụ các Tông đồ nhiều điều khi sai các ông đi thực tập truyền giáo.

Trong huấn dụ truyền giáo, Chúa Giêsu dạy các Tông đồ khi đi truyền giáo thì “đừng mang gì cả”. Người tông đồ của Chúa không được lệ thuộc vào vật chất nhưng cần nhẹ nhàng thanh thoát như một người lữ hành. Hơn nữa, một người loan báo Tin Mừng phải hoàn toàn tin tưởng, phó thác nơi Chúa quan phòng.

2. Bài Tin Mừng hôm nay đặc biệt họa lên chân dung của một vị Tông đồ của Chúa Giêsu trong sứ vụ rao giảng Tin Mừng : mang sứ điệp Nước Trời, chữa lành người đau yếu, sống khó nghèo và đem bình an đến cho mọi người.  Vậy Chúa Giêsu sai mười hai Tông đồ đi thực tập truyền giáo tới nơi nào ? Dặn dò các ông mang những gì ? Truyền cho các ông phải nói gì ? Phải có thái độ nào khi người ta tiếp đón hay hay không tiếp đón, thậm chí còn bị người ta xua đuổi … Đó là những điều chúng ta cần tìm hiểu trong bài này.

3. Trước hết, Chúa bảo các ông phải rao giảng Nước Trời. Đó là nội dung sứ điệp các ông phải giảng dạy. Nước Trời đã được Ngài loan báo và thiết lập, nghĩa là với sự xuất hiện của Ngài, Nước Trời không còn xa xôi, cũng không còn là lời hứa, nhưng đã hình thành trong thời gian qua sự hiện diện của Ngài, đã đến cùng với Ngài, chính Ngài thiết lập Nước Trời ở trần gian.

Tiếp đến là khi đi truyền giáo, Chúa bảo các ông phải hoàn toàn phó thác vào Thiên Chúa, nghĩa là người môn đệ ra đi truyền giáo phải có tấm lòng từ bỏ tất cả, của cải vật chất, phải thoát ly ra ngoài vòng kiểm tỏa của tiền bạc…

Sau cùng, Chúa cho các ông biết : công việc rao giảng của các ông không dễ dàng, có người chấp nhận, có người không. Vậy các ông phải có thái độ thế nào ?  Gặp được nhà nào tốt lành chính đáng, niềm nở đón tiếp, thì ở lại đó  cho tới lúc ra đi. Làm như vậy là tỏ lòng kính trọng, trung thành và biết ơn lòng hiếu khách…

4. Tin Mừng hôm nay cũng cho thấy một điểm khó hiểu đến phi lý, đó là Chúa Giêsu sai các môn đệ ra đi vào một nơi vô định với hai bàn tay trắng, ngay cả một chút tiền túi cũng không, tất cả đều nằm trong chờ đợi. Thật là nghịch lý và khó hiểu, nhưng đó lại là điều Chúa muốn nơi các môn đệ : Ngài muốn cho họ sống nghèo khó để rồi khám phá ra đâu là sự giầu có đích thực. Người môn đệ nghèo, không phải vì họ không có khả năng làm giầu  hoặc không được phép hưởng dùng của cải.  Nhưng trong sự nghèo khó, họ sẽ khám phá ra ý nghĩa đích thực của giầu có và cảm nghiệm được tình yêu quan phòng của Thiên Chúa. Và cũng nhờ đó họ sẽ an tâm dồn nỗ lực cho việc rao giảng Tin Mừng cứu rỗi (Mỗi ngày một tin vui).

5. Hôm ấy là lễ thánh Têrêsa Avila, dòng kín Carmêlô tại Lisieux mở cửa cho giáo dân và du khách viếng thăm. Có một người du khách không hiểu lý do đời sống khắc khổ của các nữ tu đã thầm nghĩ : chỉ có những người không đủ ăn đủ mặc  mới dấn thân vào đây. Gặp một nữ tu tại hành lang, ông nói :”Này chị, giả như chị có tòa nhà sang trọng như tòa nhà  ở ngoài cổng đối diện với nhà Dòng, chị có thể hy sinh  chôn mình trong bốn bức tường Dòng Kín này không” ? Chị nữ tu mỉm cười trả lời :”Thưa ông, nhà ấy chính là nhà của tôi”. Quả thật, đó là nhà của chị thánh Têrêsa Hài Đồng mà người du khách hiếu kỳ vừa chất vấn.

6. Đối với chúng ta ngày nay, mỗi người chúng ta khi nhận phép Rửa tội và phép Thêm sức, chúng ta đều được Chúa mời gọi và sai đi rao giảng Nước Trời, tức là rao giảng về Chúa Giêsu, về tình thương của Ngài và những hồng ân của Thiên Chúa, có người bằng việc làm, có người bằng lời nói, nhưng tất cả đều rao giảng bằng chính đời sống của mình.

7.  Truyện : Nhạc sĩ phó tế Vũ Thành An.

Mới đây, với chủ đề nhạc thính phòng, trung tâm ca nhạc Thúy Nga có trụ sở tại Paris đã giới thiệu một số nhạc sĩ quen thuộc, trong đó nhạc sĩ Vũ Thành An được chú ý tới một cách đặc biệt. Người ta chú ý đến người nhạc sĩ này không phải vì những bài ca không tên bất hủ của ông hồi năm 1975  mà vì cuộc hành trình đức tin mà ông đã chia sẻ trong cuốn băng.

Như một linh mục đứng trên bục giảng trong nhà thờ, nhạc sĩ Vũ Thánh An cho biết ông đã gặp gỡ Chúa Kitô. Với tất cả niềm vui và xác tín của mình, ông đã kể lại cho mọi người nghe tại sao ông đã trở lại với đức tin Công giáo ? Tại sao ông đã chuyển hướng để chỉ sáng tác thánh ca và hiện đang chuẩn bị để phục vụ Giáo hội trong chức phó tế vĩnh viễn.

Với những khán thính giả ngoài Kitô giáo, những điều chia sẻ của nhạc sĩ Vũ Thành An hẳn là một trong những bài giảng hay nhất và có sức thuyết phục nhất. Dù có dửng dưng và lạnh lùng đến đâu có lẽ không ai  mà không bị đánh động bởi cung cách tuyên xưng và rao giảng Tin Mừng một cách vô cùng đơn sơ và cũng vô cùng can đảm của người nhạc sĩ này.

Truyền giáo là chia sẻ niềm tin mà mình đã và đang sống một cách xác tín và triệt để. Có lẽ nhạc sĩ Vũ Thành An đã thực thi đúng mệnh lệnh mà Chúa Giêsu đã truyền cho các Tông đồ trong bài Tin mừng hôm nay :”Các con đã nhận lãnh nhưng không, các con cũng hãy cho nhưng không”.

Lm. Giuse Đinh Lập Liễm

 

SUY NIỆM 5:

Ai đi xa cũng phải chuẩn bị hành trang. Chuyến đi càng xa thì hành trang càng nhiều. Chuyến đi càng quan trọng thì hành trang càng phải chuẩn bị kỹ lưỡng. 

Vậy mà hôm nay, khi sai các môn đệ ra đi rao giảng Tin mừng, một công việc hết sức quan trọng. Thế mà Chúa lại căn dặn các ông; không được mang bao bị, giầy dép, tiền bạc và không được mặc hai áo. 

Tại sao vậy? Thưa bởi vì Chúa muốn các ông sống tinh thần tín thác vào Chúa. Đừng cậy dựa vào của cải vật chất. Vì vật chất thường tạo ra một thứ an tâm giả tạo cho con người. 

Nếu người môn đệ ra đi rao giảng Tin mừng mà quá bám víu vào vật chất thì sẽ quên mất sứ mệnh rao giảng. Quên mất vai trò được sai đi. 

Vì thế cho nên, Chúa mới căn dặn các ông như vậy. Trong lời căn dặn ấy, ta thấy Chúa nói “không được mặc hai áo”, ta đừng hiểu là chiếc áo vải chúng ta mặc. Nhưng là mặc lấy Chúa Kitô và giáo lý của Ngài chứ đừng khoác lên mình một thứ tà thuyết hay một thứ giáo lý sai lạc khác mà rao giảng. Như thế, những người nghe lời rao giảng sẽ bị rơi vào tình trạng lầm đường lạc lối, nguy cơ đưa tới sự hủy diệt đời đời.

Xin Chúa cho chúng ta hãy ý thức rằng: mỗi người chúng ta cũng đã được lãnh nhận sứ mệnh truyền giáo và được sai đi rao giảng Tin mừng của Chúa cho tha nhân khi chúng ta lãnh nhận bí tích rửa tội, đồng thời mỗi người chúng ta cũng hãy ý thức rằng: Đừng quá bám víu vào vật chất mà quên mất sứ mệnh rao giảng. Chúng ta đã nhận được nhưng không Tin mừng cứu độ của Chúa thì ta cũng hãy cho nhưng không Tin mừng cứu độ ấy cho người khác. Xin Chúa giúp chúng ta hãy rao giảng bằng chính đời sống chứng tá của mình và họa lại hình ảnh trung thực nhất về Chúa Kitô cho những người chưa biết Chúa đang sống xung quanh chúng ta, để họ mở lòng ra và đón nhận được ơn cứu độ của Chúa đến với họ. Amen.

Lm. Phê-rô Mai Viết Thắng