THỨ NĂM TUẦN VIII THƯỜNG NIÊN NĂM A

Mc 10,46-52

 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô

46Khi ấy, Chúa Giêsu ra khỏi thành Giêricô cùng với các môn đệ, và một đám đông, thì có con ông Timê tên là Bartimê, một người mù ăn xin đang ngồi ở vệ đường. 47Khi anh ta nghe biết đó là Chúa Giêsu Nagiarét, liền kêu lên rằng: “Hỡi ông Giêsu con vua Ðavít, xin thương xót tôi”. 48Và nhiều người mắng anh bảo im đi, nhưng anh càng kêu to hơn: “Hỡi con vua Ðavít , xin thương xót tôi”. 49Chúa Giêsu dừng lại và truyền gọi anh đến. Người ta gọi người mù và bảo anh: “Hãy vững tâm đứng dậy, Người gọi anh”. 50Anh ta liệng áo choàng, đứng dậy, đến cùng Chúa Giêsu. 51Bấy giờ Chúa Giêsu bảo rằng: “Anh muốn Ta làm gì cho anh”? Người mù thưa: “Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy”. 52Chúa Giêsu đáp: “Ðược, đức tin của anh đã chữa anh”. Tức thì anh ta thấy được và đi theo Người.

SUY NIỆM 1: NHƯ MỘT CHỨNG NHÂN

“Lạy ông Giêsu con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!”.

“Điều chính yếu không thể thấy bằng mắt. Để thấy nó, phải nhìn bằng tim!” - Saint Exupéry.

Kính thưa Anh Chị em,

Nhân vật mù loà trong Tin Mừng hôm nay không thấy Chúa Giêsu bằng mắt, anh thấy Ngài bằng tim. Anh không hề nhận ra rằng, hành động đức tin và sự kiên trì của anh sẽ được ghi lại trong Thánh Kinh ‘như một chứng nhân’ ngàn đời cho vô số người được soi dẫn qua mọi thời đại.

Anh mù Bartimê chỉ làm phần việc của mình và Chúa Giêsu lấy đức tin của anh, chữa lành anh, dùng anh làm nhân chứng cho vinh quang Ngài. Diễn tiến của câu chuyện này rất sâu sắc đối với đời sống đức tin và cách thức cầu nguyện của bạn và tôi.

Trước hết, hãy bắt đầu với hoàn cảnh của anh, một người mù, nghèo khó và sống nhờ người khác. Anh ấy đang ở trong tình trạng rất thiếu thốn. Trong tình trạng này, anh nghe Chúa Giêsu đi ngang qua và nhân cơ hội đó, anh kêu lên Ngài, “Lạy ông Giêsu con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!”. Điều đáng chú ý là Bartimê bị những người chung quanh khiển trách vì lời cầu khá ồn ào của anh; và với điều này, họ như thể muốn nói với anh rằng, anh không xứng đáng với thời gian và sự quan tâm của Ngài.

Bài học quan trọng có thể rút ra từ đoạn văn này là sự kiên trì. Bartimê phớt lờ những lời quở trách của người khác và anh lớn tiếng hơn. Anh không cho phép sự tiêu cực và những đánh giá sai lầm của người khác cản trở tầm nhìn và lòng tin của anh vào Chúa Giêsu. Thực tế, khi sự phản đối càng gia tăng, anh càng lớn tiếng hơn. Bài học này dạy chúng ta cách đối phó với những khó khăn trong cuộc sống. Thông thường, chúng ta bị cám dỗ thu mình lại và nản lòng khi phải đối mặt với một số bất trắc. Điều chúng ta nên làm những lúc ấy là tin cậy vào Chúa nhiều hơn. Chúng ta cần hướng về Ngài và tin chắc rằng, Ngài sẽ nghe chúng ta và muốn can thiệp bất cứ giá nào để giải thoát chúng ta.

Và đó chính xác là những gì Chúa Giêsu đã làm. Ngài lắng nghe Batimê, đáp lại và chữa lành anh. Thật thú vị! Khi thấy khi Ngài để mắt đến Batimê và nhất là khi Ngài gọi anh, tất cả những người vừa quở trách anh lại bất ngờ động viên anh! Đây là kết quả của việc Chúa Giêsu chấp nhận, nhưng cũng là kết quả đức tin và sự kiên trì của anh ‘như một chứng nhân’ cho hiệu quả sức mạnh của việc cầu nguyện.

Anh Chị em,

“Lạy ông Giêsu con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!”. Hôm nay, hãy suy gẫm về lời cầu nguyện khiêm nhường của người ăn xin mù loà này và biến nó thành lời cầu nguyện của chính bạn. Hãy lặp đi lặp lại lời cầu này và cố gắng khám phá đức tin mà anh ấy đã có. Anh không thấy Chúa Giêsu bằng mắt, nhưng thấy Ngài bằng tim để tuyệt đối tin tưởng vào Ngài, Đấng cũng sẽ nghe lời cầu của bạn, gọi bạn đến và ban cho bạn sự chữa lành mà bạn cần. Và đến lượt bạn, ‘như một chứng nhân’, bạn sẽ làm chứng cho sự kiên trì và niềm tin vào Chúa của một con người cầu nguyện.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy con vua Đavít, xin dủ lòng thương con. Lạy con vua Đavít, xin dủ lòng thương con. Lạy con vua Đavít, xin dủ lòng thương con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 

SUY NIỆM 2: XIN CHÚA CHỮA CHO TA SÁNG

Trong chuyến đi lên Giêrusalem, Đức Giêsu và nhóm các môn đệ đến Giêrikhô, thành phố cây chà là, cách Giêrusalem 23Km về phía đông bắc, nằm ở 250m dưới măt biển, tại một ốc đảo trong vùng trũng bên sông Giođan. Giêrikhô Tân Ước ở về phía Tây Nam của “Giêrikhô của vua Hêrôđê”, nơi vị vua này đã xây một hoàng cung rộng lớn. Khác với Tin Mừng Luca (18,35–19,10), ở đây Chúa Giêsu và đoàn người đã không dừng lại Giêrikhô; cả đoàn đang đi ra khỏi thành thì gặp anh hành khất mù Báctimê. Vị trí của hai bên là hai vị trí không thể gặp nhau: Đức Giêsu và các môn đệ cùng đám đông thì đang di chuyển trên đường; anh mù thì đang ngồi ở vệ đường.

 Ta thấy Thánh Máccô kể truyện một người mù được dẫn đến gặp Chúa Giêsu, được Người chữa lành tiệm tiến, và được yêu cầu giữ kín việc này; trong Mc 10,45-52, Báctimê tự mình tích cực tìm Chúa Giêsu, được chữa lành ngay và trở thành môn đệ trên đường. Truyện thứ hai này, cùng với câu truyện thứ nhất, đóng khung một đơn vị văn chương, nhưng cũng cho thấy một sự tiến bộ trong đức tin. Truyện này có thể được coi như một truyện về chữa lành hoặc một truyện về ơn gọi. Truyện này còn là một lời khuyến khích các môn đệ đang đi theo Chúa Giêsu mà không hiểu gì hết, lòng trĩu nặng kinh hoàng.'

 Tin mừng hôm nay ghi nhận câu chuyện về người mù thành Giêricô đã chạy đến với Chúa Giêsu không nhờ con mắt thể xác nhưng nhờ con mắt đức tin của anh. Tuy mắt anh không nhìn thấy Chúa Giêsu, nhưng chính con mắt đức tin đã mách bảo và dẫn đường để anh chạy đến với Người. Trước đó anh đã nghe đồn Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai và anh đã ao ước gặp Người để xin Người chữa anh khỏi bị mù.

Vì thế khi nghe thấy một đám đông đang tiến đến gần chỗ anh đang ngồi ăn xin bên vệ đường và anh nghe tiếng của một ráp-bi đang vừa đi đường vừa giảng, thì anh liền dò hỏi người chung quanh. Khi biết vị tôn sư kia chinh là Chúa Giêsu Nadarét, là người mà anh đã nghe biết và mong sớm được gặp mặt.

 Bấy giờ anh mù liền kêu to: “Lạy ông Giêsu, Con Vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!”. Dù bị nhiều người đi trước cấm nói to, nhưng anh mù lại càng la to hơn với hy vọng được Chúa Giêsu nghe thấy.

 Quả thật Chúa Giêsu đã nghe thấy tiếng kêu cứu của anh và Người cho gọi anh đến gặp Người. Nghe vậy anh mù liền quăng chiếc áo choàng đang khoác trên mình lại, để nhảy chồm dậy chạy mau đến gặp Người như trước đó anh chưa hề bị mù. Sau khi nghe biết lòng tin và lòng mong ước của anh, Chúa Giêsu liền tuyên bố: “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh!”.

Lập tức anh mù đã được sáng mắt để thấy được đường đi, mà anh còn được sáng lòng để tin Đức Giêsu và tình nguyện theo Người lên Giêrusalem để cùng Người đi con đường “qua đau khổ thập giá vào vinh quang phục sinh”.

 Đáng ngạc nhiên là đức tin của anh mù “ngồi ở vệ đường”, tức lâu nay không “đi theo” Chúa Giêsu, lại có phần sâu sắc (“Con vua Đavít”) hơn đức tin của đám đông dân chúng (“Giêsu người Nazaret”). Anh cứ kêu to hướng về Chúa Giêsu ,bởi vì anh muốn gặp Chúa Giêsu mà anh lại không biết hướng. Đã thế đám đông lại trở thành trở ngại cho đức tin của anh: họ quát nạt bắt anh im đi. Nhưng anh càng kêu to hơn.

 Và rồi ta thấy Chúa Giêsu đã dừng lại, truyền gọi anh lại. Đám đông thấy Chúa Giêsu chiếu cố đến anh, liền “đổi giọng”. Đến đây xảy ra sự cắt đứt cuộc hành trình, Chúa Giêsu đứng lại (câu 49): chính thái độ này đã làm thay đổi thái độ của đám đông và đưa lại cho anh mù sự di động và sự gần gũi. Lối xử sự của Chúa Giêsu (đứng lại, truyền) đã làm cho hai bên có sự gặp nhau: anh ta có hướng đi tới. Sự việc anh vất áo choàng có nghĩa là đã chấm dứt sự cố định, để đạt sự di động. Hành vi “đến” (câu 50) đưa anh mù di chuyển mà gặp Chúa Giêsu, và đưa anh vào “con đường” Người đang đi. “Chúa Giêsu” và “con đường” là một; nói cách khác, sự gần gũi và di động phối hợp với nhau: con đường đã mở ra cho anh mù.

 Tin Mừng hôm nay cũng cho thấy thái độ không tốt của những người đang đi trước Chúa Giêsu, khi nghe anh mù la to: “Lạy ông Giêsu, Con Vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!” thì họ đã quát nạt bắt anh phải im lặng. Khi lời kêu cầu của anh mù đã được Chúa Giêsu nghe và truyền dẫn anh đến gặp thì những người kia mới dịu giọng và giúp đỡ anh gặp được Người. Những người này đã trở thành rào cản anh mù đến với Đức Giêsu. Họ giống như những đầu mục Do thái đã bị Chúa Giêsu quở trách: "Khốn cho các ngươi, hỡi những luật sĩ và biệt phái giả hình! Vì các ngươi đóng cửa nước trời không cho người ta vào: vì các ngươi không vào, mà kẻ muốn vào, các ngươi cũng chẳng để cho vào” (Mt 23,13).

 Chúa Giêsu đã chữa lành bệnh mù thể xác, và Người cũng chữa lành bệnh mù tâm linh. Chính sự mù tối tâm linh này còn tác hại hơn bệnh mù thể xác. Nó biểu hiện ra bằng thái độ không chấp nhận sự thật của đức Tin, không nhận ra tình thương và những sự thiện hảo nơi người khác. Vậy mỗi người chúng ta cần tự hỏi mình vào buổi tối trước khi đi ngủ: Hiện giờ tôi có bị bệnh mù tối tâm linh nói trên hay không? Nếu có, hãy xin Chúa chữa lành như người mù trong Tin Mừng hôm nay bằng lời cầu như sau: “Lạy Chúa. Xin hãy mở mắt linh hồn con ra để con biết nghĩ đến người khác và biết cảm thông để chia sẻ tình yêu thương phục vụ cho họ”.

Trong gia đình, vợ chồng cần sáng mắt tâm linh khi biết quan tâm cảm thông với nhau và động viên nhau chu toàn nhiệm vụ lo cho gia đình được hòa hợp hạnh phúc...

 Trong khi giao tiếp xã hội, mỗi người chúng ta thay vì chỉ nhìn thấy khuyết điểm lầm lỗi của kẻ khác, chúng ta hãy quan tầm tìm ra mặt tốt của họ. Cần ý thức rằng: Dù là một kẻ xấu xa phạm tội cướp của giết người không gớm tay thì trong lòng họ vẫn còn ít nhất 5 phần trăm tốt.
Đường đến Thiên Chúa của ta có thể cũng đã bị ngăn cản cách này cách khác bởi nhiều người, và cũng có thể chính ta đã quát tháo bảo im đi nhiều người đang tha thiết van xin lòng từ bi của Thiên Chúa. Nhưng bên cạnh những người quát tháo, nạt nộ, cấm cản ta đến với Chúa, khóc với Chúa, kêu cầu Chúa, vẫn có những người đồng hành với ta trên đường tìm gặp Chúa đang thì thầm, nhắc nhở, động viên: “ Hãy vững lòng! Dậy đi! Ngài gọi anh đó ”(Mac 10, 49).

Đám đông cùng đi có lòng tốt ấy chính là Giáo Hội, là đoàn thể những người cùng đi theo Chúa Giêsu và làm chứng Chúa Giêsu cho mọi người. Chúng ta hãy tin vào Giáo Hội, tin vào mầu nhiệm hiệp thông trong Giáo Hội để đừng bao giờ thất vọng nghĩ mình đơn độc trên đường tìm gặp Chúa.

Điều quan trọng là chúng ta phải khám phá ra và nhân rộng những điều tốt này để giúp họ loại trừ dần 95 phần trăm điều xấu tội lỗi kia. Bởi đó, cùng với anh mù trong Tin Mừng hôm nay, chúng ta hãy cầu xin Chúa Giêsu: “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ có tội và ban cho con được sáng mắt đức tin để con nhận biết Chúa đang hiện thân trong anh chị em con và giúp họ ngày càng nên tốt giống Chúa hơn”.

Thật thế, Thiên Chúa không bỏ ngoài tai lời cầu xin của bất cứ ai, dù là những lời cầu xin đơn sơ, thô kệch,mộc mạc, kể cả nhức đầu, nhức óc, vì Ngài là Cha nhân hậu luôn thương xót con cái mình. Chân lý này cho phép chúng ta tín thác tuyệt đối ở Thiên Chúa khi cầu nguyện, dù lắm lúc tưởng Chúa ngủ quên hay đã chết thật rồi.

Huệ Minh

 

SUY NIỆM 3:

“Lạy Con Vua Đavít, xin thương xót con”.

Lời van xin này không chỉ là lời van xin riêng rẽ của một người hành khất có tên là Bartimê ngồi ăn xin bên vệ đường thành Giêricô. Nhưng có thể nói đây là lời van xin tiêu biểu cho cả một nhân loại đang lầm than trong cảnh mù loà tăm tối của tội lỗi, đang kêu gào xin được Thiên Chúa thương xót.

Hôm đó Chúa Giêsu đang dẫn đầu cả một đoàn người tiến về Giêrusalem. Họ theo Chúa với niềm phấn khởi và hy vọng, vì họ tin rằng chắc chắn lần này Chúa Giêsu sẽ về giải phóng Giêrusalem và sẽ làm vua, đem lại độc lập và tự do cho đất nước. Như vậy là cả cái đoàn người đang theo Chúa này, tất cả họ đều sáng mắt, nhưng lại chẳng ai nhận ra Chúa Giêsu là Đấng nào. Trong khi đó thì một người mù không trông thấy gì, nhưng đôi mắt tinh thần của anh lại sáng suốt, khiến anh nhìn thấy con người Đức Giêsu và nhận ra Ngài là Đấng Cứu Thế khi gọi Ngài là Con Vua Đavít. “Lạy Con Vua Đavít, xin thương xót con”.

Người ta càng cản ngăn anh thì anh càng kêu to. Và tiếng kêu của anh đã thấu đến tai Chúa, Ngài dừng lại, cho gọi anh tới. Và khi tiếng gọi của Chúa vừa tới tai anh, đã làm thay đổi hẳn cuộc sống của con người lầm than này. Vì vừa nghe tiếng Chúa gọi, anh vội vất áo choàng, nhảy chồm dậy mà đến cùng Chúa Giêsu. Anh cởi tung áo choàng, vất sang một bên, một cử chỉ muốn cởi tung và vất bỏ cái số phận đen tối, chết chóc, vẫn bao trùm lên anh từ bấy lâu nay. Như vậy, khi Lời Chúa vừa tới tai anh thì dường như phép lạ đã xảy ra rồi. Lập tức anh thấy được và theo Chúa Giêsu lên đường.

Theo chúa Giêsu lên đường. Đó chính là điểm chính yếu của toàn bộ câu chuyện. Chúa chữa anh ta khỏi mù, không phải để anh ta thấy đường mà tiếp tục đi ăn xin, tiếp tục số kiếp lầm than. Nhưng chữa ta khỏi mù để thấy đường mà theo Chúa.

Tất cả chúng ta cũng đã từng sống trong cảnh mù loà tăm tối của tội lỗi. Nhưng điều quan trọng không phải là vui mừng vì được cứu rỗi, nhưng là hãy bắt chước anh mù Bartimê: Hãy chỗi dậy mà nhập vào đoàn người đi theo Chúa.

Lm. Phaolô Vũ Đức Vượng

 

SUY NIỆM 4: ÁNH SÁNG ĐỨC TIN

Qua Lời Tổng Nguyện của Thứ Năm Tuần 8 Thường Niên, năm Chẵn này, các nhà phụng vụ muốn chúng ta xin Chúa an bài cho mọi việc ở trần gian luôn diễn tiến trong hòa bình trật tự, để tất cả chúng ta được nhờ, và Hội Thánh được an vui thờ phượng Chúa. 

Chúa đã an bài mọi việc luôn diễn tiến trong hòa bình trật tự, vì thế, câu trả cho mọi đau khổ trên trần gian này cũng không nằm ngoài tình yêu quan phòng của Chúa, như trong bài đọc một của giờ Kinh Sách, sách Gióp cho thấy: Những người bạn của ông Gióp chẳng hiểu gì về những đau khổ của ông. Họ chỉ lặp lại những công thức mà họ đã thuộc nằm lòng. Thấy người ta đau khổ, mà nói năng như thế, thì thật là, không thể giúp được gì. Giả như, có thánh Phaolô ở đó, chắc chắn, chúng ta sẽ được nghe những lời đầy xác tín: Chúng tôi bị dồn ép tư bề, nhưng không bị đè bẹp; hoang mang, nhưng không tuyệt vọng; bị ngược đãi, nhưng không bị bỏ rơi. Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giêsu, để sự sống của Đức Giêsu cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi.

Chúa đã an bài mọi việc luôn diễn tiến trong hòa bình trật tự, tất cả đều diễn tiến theo quy luật tình yêu của Chúa, như trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, thánh Ghêgôriô Cả nói: Thật thế, không có gì diễn tả luật Đức Kitô cách thích đáng hơn đức ái; luật ấy, chúng ta giữ trọn được khi chúng ta lấy tình thương mà mang gánh nặng cho anh chị em mình. Luật ấy là luật đa diện, vì đức ái có mặt trong mọi hành vi của các nhân đức khác nhờ sự nhiệt tâm ân cần. Luật đó khởi đầu với hai điều răn, nhưng khai triển thành vô số các điều răn khác.

Chúa đã an bài mọi việc luôn diễn tiến trong hòa bình trật tự, và chúng ta phải loan báo những kỳ công của Người bằng lối sống ngay lành của chúng ta, như trong bài đọc một của Thánh Lễ, thánh Phêrô nói: Anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người, Đấng đã gọi anh em ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền. Anh em hãy ăn ở ngay lành giữa dân ngoại, để ngay cả khi họ vu khống, coi anh em là người gian ác, họ cũng thấy các việc lành anh em làm, mà tôn vinh Thiên Chúa trong ngày Người đến viếng thăm. Vì thế, trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 99, vịnh gia cũng đã kêu gọi: Hãy vào trước thánh nhan Chúa giữa tiếng hò reo. Bởi vì Chúa nhân hậu, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương, qua bao thế hệ, vẫn một niềm thành tín.

Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Chúa nói: Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống. Trong bài Tin Mừng, thánh Máccô tường thuật lại: Đức Giêsu hỏi anh mù Batimê: Anh muốn tôi làm gì cho anh? Anh mù đáp: Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được. Người nói: Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh! Tức khắc, anh ta nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi. Chỉ có những ai bước đi trong ánh sáng của Chúa, mới có thể nhìn thấy được nẻo chính đường ngay: con đường dẫn đến sự sống. Chỉ với con mắt đức tin, chúng ta mới nhìn thấy được tình yêu quan phòng của Chúa ẩn đằng sau những gì mà chúng ta cho là mất mát, thua thiệt. Chúa đã an bài mọi việc luôn diễn tiến trong hòa bình trật tự, nhằm để chúng ta được bình an hạnh phúc, nhưng vì, đôi mắt của chúng ta cứ dõi theo những dục vọng của thế gian, cho nên, chúng ta cứ thấy cuộc đời mình là tai họa, bất an. Ước gì chúng ta biết phó mình trong bàn tay quan phòng của Chúa, cho dẫu, hiện thực đời sống có ra sao, chúng ta vẫn xác tín rằng: Chúa luôn yêu thương bảo bọc chúng ta, để qua cách sống của chúng ta, người khác cũng nhìn thấy Chúa giữa những thăng trầm, biến động của cuộc sống này. Ước gì được như thế!

Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB

 

SUY NIỆM 5: NGƯỜI MÙ THÀNH GIÊRICÔ

1. Thánh Marcô thuật lại cho chúng ta việc Đức Giêsu chữa người mù từ mới sinh tại cổng thành Giêricô. Lời kêu van của người mù :”Lạy Con vua Đavít, xin thương xót tôi”, cho thấy dân chúng tin Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế, là Đấng khôi phục và giải phóng dân tộc. Nhưng khi Đức Giêsu chữa lành cho người mù được sáng mắt, Ngài muốn hướng người ta về sứ mạng đích thực của Ngài là cứu độ muôn dân. Ngài đến để giải thoát nhân loại khỏi đau khổ và tối tăm của sự dữ. Như thế, tin vào Đức Giêsu, con người mới được ánh sáng, được giải phóng và được tự do làm con Thiên Chúa.

2. Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn. Nhờ cặp mắt chúng ta có thể nhận biết và tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Chúng ta có thể nhìn thấy mọi người, mọi vật. Có những người mù từ thuở mới sinh, hay bị mù do tai nạn, bệnh tật. Họ giống như ngọn đèn bị tắt, suốt đời phải chịu lần mò trong bóng tối, không còn đuợc hưởng ánh sáng mặt trời và những vẻ đẹp của thế tới sự sáng, họ phải buồn phiền khổ cực biết bao. Vì thế, anh mù thành Giêricô hôm nay đang phải ở trong tình trạng đó, anh đau khổ nên anh  đã phải tha thiết xin Chúa giúp đỡ : “Lạy Con vua  Đavít, xin dủ lòng thương xót tôi”.

3. Hôm nay, nghe biết Đức Giêsu đi qua, anh mù kêu xin Chúa cứu chữa, người ta cấm anh, anh càng kêu lớn hơn. Anh không xin tiền, xin gạo, xin bánh như mọi khi, nhưng xin được xem thấy. Khi nghe tiếng Đức Giêsu gọi, anh vội vàng vứt áo choàng, nhảy chồm về phía Chúa. Lời kêu xin và thái độ của anh chứng tỏ anh tin tưởng sâu xa mạnh mẽ vào quyền năng của Chúa, chính vì niềm tin này Đức Giêsu đã cứu chữa anh, và khi được sáng mắt anh đã đi theo Chúa.

4. Mắt là cảm hứng cho thi sĩ làm thơ, cho nhạc sĩ viết nên cung nhạc. Mắt là hồn cho thơ, là sóng cho nhạc. Có người nhìn đôi mắt như mùa thu. Có người nhìn đôi mắt như dòng sông. Trong văn chương và nghệ thuật, cảm hứng về mắt bao giờ cũng đẹp. Trái lại khi nói về mắt, Phúc âm lại nói về đôi mắt mù. Mù đôi mắt thân xác đã bất hạnh, còn mù đôi mắt tâm hồn lại là một bất hạnh lớn. Mù đôi mắt tâm hồn là “mù” mà không chấp nhận mình “mù”, vì nghĩ rằng mình vẫn sáng suốt để nhìn ra Chúa. Nhưng đâu ngờ, đàng sau đôi mắt ấy, có thể chỉ là một màn đêm lạnh lẽo. Một tâm hồn trống trải, buồn tênh. Chẳng buồn nghe và thực thi Lời Chúa nữa (Hosanna).

5. Ngày nay trên thế giới số người mù về thể xác có lẽ suy giảm đi đôi chút, nhưng ai dám nói số người mù về tinh thần đã giảm đi ? Số người “thấy mà xem chẳng thấy”(kinh cám ơn rước lễ xưa) thì rất nhiều. Người ta biết mọi cái trên thế giới, kể cả cung trăng, một số hành tinh và một vài vì sao, nhưng có cái gần nhất người ta lại không thấy, đó là cái “tôi” của mình, là con người của mình, là bản thân mình.

Nói chi đến thực tại siêu nhiên, người ta mù tịt trước những vấn đề thiêng liêng. Anh mù Bartimê đã nhìn ra Đức Giêsu là ai, là Đấng Cứu Thế trong khi đám đông chưa nhìn ra con người thật của Ngài. Họ có con mắt sáng, nhưng lòng họ vẫn còn u tối. Họ cần được Chúa soi sáng cho họ để họ nhìn ra chân lý.

Còn chúng ta, những người sáng mắt thì sao ? Không những chúng ta phải cảm tạ Chúa, phải quí trọng giữ gìn, bảo vệ tâm hồn nữa. Nếu chúng ta đã lỡ để cho tâm hồn  không còn trong sáng vì nhìn xem những hình ảnh xấu…thì chúng ta hãy bắt chước anh Bartimê cương quyết, can đảm và dứt khoát ném áo choàng, đến với Chúa Giêsu trong phép Giải tội để xin Ngài chữa lành, lấy lại ánh sáng tươi đẹp cho đôi mắt.

6. Truyện : Chiếc đèn lồng.

Có một người mù, một đêm kia đến thăm người bạn thân. Hai người trò truyện thân mật với nhau cả mấy tiếng đồng hồ. Trời đã khuya, khi chia tay nhau, người bạn sáng mắt tặng anh một chiếc đèn lồng để đi đường cho an toàn. Nhưng người mù nói :

– Tôi không cần đèn. Đối với tôi, tối và sáng như nhau.

Người bạn trả lời :

– Tôi biết anh không cần đèn để soi đường, nhưng nếu anh không cầm một cái đèn thì trời tối người ta có thể đụng phải anh, nguy hiểm lắm, anh nên cầm đi.

Nghe hợp lý, anh mù ra về với chiếc đèn lồng trong tay. Đi được một quãng đường, đột nhiên anh bị một người đụng phải anh. Với vẻ tức giận, anh mù nói :

– Người nào kỳ vậy, đui hay sao mà không thấy đèn của tôi ?

Người kia đáp :

– Xin lỗi anh, đèn của anh tắt rồi nên tôi không trông thấy. Mong anh thông cảm.

Qua câu chuyện trên, chúng ta thấy anh mù tưởng mình “thấy”, còn người kia không thấy đèn. Nhưng ngược lại, chính anh mù mới không thấy đèn mình tắt. Tác giả câu truyện kết luận : Con người tưởng mình thấy nhiều chuyện, nhưng lại quên hay cố ý quên nhiều cái mình không thấy.

Nhiều khi cuộc đời chúng ta chỉ là chiếc lồng đèn bị tắt lửa không còn ánh sáng để soi chiếu cho người khác, chúng ta bắt chước anh mù Bartimê mà kêu lên : “Lạy Chúa, xin thương xót con”. 

Lm. Giuse Đinh Lập Liễm