THỨ NĂM TUẦN I THƯỜNG NIÊN NĂM A

Mc 1,40-45

 

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo Thánh Mác-cô

40 Có người bị phong hủi đến gặp Người, anh ta quỳ xuống van xin rằng: “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch.” 41 Người chạnh lòng thương giơ tay đụng vào anh và bảo: “Tôi muốn, anh sạch đi!” 42 Lập tức, chứng phong hủi biến khỏi anh, và anh được sạch.

43 Nhưng Người nghiêm giọng đuổi anh đi ngay, 44 và bảo anh: “Coi chừng, đừng nói gì với ai cả, nhưng hãy đi trình diện tư tế, và vì anh đã được lành sạch, thì hãy dâng những gì ông Mô-sê đã truyền, để làm chứng cho người ta biết.”

45 Nhưng vừa ra khỏi đó, anh đã bắt đầu rao truyền và tung tin ấy khắp nơi, đến nỗi Người không thể công khai vào thành nào được, mà phải ở lại những nơi hoang vắng ngoài thành. Và dân chúng từ khắp nơi kéo đến với Người.

 

SUY NIỆM 1: AI LÀ CHỦ: BÌNH SÀNH HAY THỢ GỐM?

Dòng lịch sử cho chúng ta thấy hiện tượng đời sống tâm linh là nét riêng có của loài người. Theo chiều kích này thì người ta có thể nói: “con người là sinh vật có “tín ngưỡng - tôn giáo”. Vào thời đại sơ khai khi đối diện với các mãnh lực của thiên nhiên thì con người ít nhiều mặc lấy tâm tình sợ hãi. Vị thế nảy sinh nhiều hình thức kính tôn, sùng bái bằng các lễ vật dâng tạ, có khi bằng cả mạng sống con người. Bên cạnh đó việc xây đền đài, tạc tượng ảnh thần minh cũng dần phát sinh. Chuyện gì đến rồi sẽ đến. Có lễ vật lấy lòng thần minh thì muốn chiếm luôn lòng của thần đã hưởng lộc của mình. Tạc tượng ảnh thần minh và xây đền cho thần ngự thì lại dần muốn “nhốt” thần, sở hữu thần và điều khiển thần.

Chước cám dỗ này hiện rõ trong lịch sử dân được tuyển chọn, Israel. Khi Môisen lên núi thì dân đã yêu cầu Aaron tạc tượng con bê vàng. Không phải dân Chúa đan tâm bỏ Chúa mà đi thờ bò vàng. Thực ra họ muốn làm một cái ngai để Thiên Chúa ngự. Thiên Chúa đã ngự trên cái ngai “con bò vàng” này thì họ sẽ nắm giữ được Thiên Chúa và dĩ nhiên sẽ điều khiển được Người theo ý họ. Sau khi vào hứa địa dân Chúa lại sử dụng hòm bia thánh và qua đó muốn buộc Thiên Chúa phải phục vụ cho lợi ích của họ. Hai người con của tư tế Hêli là Ophni và Phinê dù cũng là hàng tư tế nhưng thiếu phẩm hạnh. Lần kia khi giao chiến với quân Philitinh, hai ông đem hòm bia thánh ra trận, một cách nào đó muốn bắt Thiên Chúa đánh giặc cho mình. Ai ngờ quân Israel hôm ấy thảm bại và mất luôn cả hòm bia thánh vào tay quân Philitinh (x.1Sm 4,1-11).

Chiếc bình sành mà muốn làm chủ người thợ gốm là chước cám dỗ muôn thuở của kiếp người. Là tạo vật thì phải thần phục Đấng Sáng Tạo. Thế mà khi các lễ nghi, kinh kệ ra đời, khi các đền đài được xây, khi các ảnh tượng được làm thì con người dễ lầm tưởng rằng mình đã nắm được các thần minh. Luật Cựu Ước cấm dân Chúa không được tạc vẽ hình tượng Thiên Chúa là tránh cho dân khỏi rơi vào chước cám dỗ này. Chúa Giêsu đã từng căn dặn là khi cầu nguyện chớ có nhiều lời như bà con lương dân hay anh chị em khác đạo vì họ lầm tưởng rằng đọc đủ đầy các kinh kệ thì thần mình phải thực hiện ý nguyện của mình (x.Mt 6,7).

Bài Tin Mừng ngày thứ Năm sau Chúa Nhật I mùa Thường Niên tường thuật câu chuyện Chúa Giêsu chữa lành cho một người phung cùi (x.Mc 1,40-45). Lời van xin của người phung cùi với Chúa Giêsu thật đẹp: “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể khiến tôi nên sạch”. “Nếu Ngài muốn”, một lời tuyên xưng đức tin thật rõ ràng. Người phung cùi nhìn nhận Chúa Giêsu mới thực sự là người chủ có quyền năng và không ai có thể bắt Người làm những gì nếu Người không muốn.

Ranh giới giữa việc xin Chúa ban ơn lành và việc bắt Chúa ban ơn lành quả thật rất mỏng manh. Một lòng đạo đức mà thiếu ý thức và sự trưởng thành thì sự lấn ranh rất dễ xảy ra. Điều đáng cẩn trọng hơn, đó là nhiều tâm tình phó thác những tưởng rằng tốt nhưng thực ra là lỗi “đức trông cậy”, vì thụ động, quá ỉ lại, vi lười biếng hoặc sợ hãi mà chờ hoặc bắt Thiên Chúa phải ra tay. Vẫn có đó nhiều lời than thở như trách cứ: “Tại sao Chúa lại để cho sự dữ lan tràn? Tại sao nhiều kẻ độc tài, gian ác vẫn nhởn nhơ?” Nhưng Thiên Chúa sẽ trả lời: “Ta đã dựng nên ngươi. Ngươi là chiếc bình sành. Ta là người thợ gốm. Hãy làm điều Ta muốn!”.

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa – Ban Mê Thuột

 

SUY NIỆM 2: “LỢI DỤNG THÌ KHỔ TÂM, YÊU THẬT MỚI HẠNH PHÚC”

Trong cuộc đời, mỗi người sẽ có những cảm nhận khác nhau về tình yêu. Tuy nhiên, vẫn có chuẩn mực chung mà ai cũng phải thừa nhận. Chuẩn mực chung ấy là điều phải có để giúp con người có được hướng đi và lối sống đúng đắn trong hành trình làm người cũng như hành trình sống đời Kitô hữu. Nhờ đức tin, người Kitô hữu nhận biết “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,16) và Người cũng là chuẩn mực tuyệt hảo và tuyệt đối cho mọi loài. Trong ý hướng ấy, hôm nay chúng ta cùng để cho Lời Chúa soi dẫn mà học với Chúa kinh nghiệm sống đời yêu thương.

Nhìn lại mối tương quan của người Do Thái với Thiên Chúa trong Cựu ước mà bài đọc thứ nhất hôm nay kể lại, ta thấy có điều gì đó không ổn trong cách họ nghĩ về Thiên Chúa và cách họ sống với Người. Họ luôn luôn tự hào mình là Dân riêng được Chúa tuyển chọn. Điều ấy là tốt nhưng nó lại trở thành xấu khi họ, vì nghĩ như thế, rồi tự coi mình có đặc quyền hơn các dân tộc khác. Họ nghĩ rằng họ có Chúa nên họ không sợ ai, họ nghĩ mình có Chúa nên họ đánh đâu thắng đó. Ban đầu, nghĩa là khi Chúa lập Giao ước với họ tại núi Sinai, có thể họ không nghĩ như thế nhưng dần dần vì họ đi lệch ra khỏi đường lối của Chúa mà chạy theo các thói xấu và tội lỗi nên họ tương quan với Chúa không còn phải vì lòng yêu mến nhưng toàn vì ý riêng của họ. Thật vậy, lời Chúa hôm nay cho ta thấy rõ suy nghĩ lệch lạc của họ: “Tại sao hôm nay Thiên Chúa sát hại chúng ta trước mặt quân Philitinh? Chúng ta hãy đem hòm bia Thiên Chúa từ Silô đến giữa chúng ta, để cứu chúng ta khỏi tay quân thù” (1Sm 4,3). Thay vì đến với Chúa để hỏi ý Chúa, họ lại mang theo Hòm Bia. Họ mang Hòm Bia đến và reo vui vang dậy nhưng kết quả là điều ấy chẳng thay đổi được tình hình: “Người Philitinh giao chiến, và dân Israel bị bại trận, và mạnh ai nấy chạy về trại mình. Và thật là một đại hoạ, bên Israel có đến ba mươi ngàn bộ binh tử trận. Hòm bia Thiên Chúa cũng bị chiếm đoạt. Cả hai con Hêli là Ophni và Phinê cũng tử trận” (1Sm 4,10-11). Là dân riêng mà họ lại không hiểu rằng Hòm Bia, dù quý giá vì biểu trưng sự hiện diện của Chúa, nhưng không phải là Chúa! Thêm vào đó, họ lại còn dùng Hòm Bia theo ý thích cá nhân mà không thèm đếm xỉa gì tới ý muốn của Chúa! Một tương quan mờ nhạt với Chúa như thế, lại còn có ý định lợi dụng Chúa thì họ tự chuốc lấy thất bại và đau khổ thôi!

Ngược lại với cách suy nghĩ và lối sống của những người Do Thái vừa nói trên, người bệnh cùi trong bài Tin mừng hôm nay lại có một cách nhìn và cách sống khác hẳn trong tương quan giữa anh với Chúa. Chắc chắn anh rất đau khổ vì sự hành hạ của cơn bệnh quái ác, phải chịu bao vết thương cùng cực bên ngoài và cả bên trong tâm hồn khi anh bị loại ra khỏi cộng đồng và phải sống trốn chui trốn nhủi trong những khu vực dành riêng. Vậy mà chúng ta thấy anh đến với Chúa với một cung cách thật đặc biệt. Trước hết, việc anh “quỳ xuống” diễn tả đức tin mạnh mẽ của anh vào Chúa Giêsu. Hành động ấy cho thấy anh tin Chúa là Đấng từ trời xuống và có quyền năng để cứu anh. Ngay sau đó, dù tin Chúa có thể chữa lành cho anh nhưng anh không buộc Chúa làm theo ý mình. Anh cũng thưa với Chúa khát khao của anh nhưng anh phó thác để tuỳ ý Chúa: “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể khiến tôi nên sạch” (Mc 1,40). Đọc và ngẫm cho kỹ ở chỗ này, ta sẽ thấy cốt lõi của đức tin, đó là một thái độ và cách sống tin vững vàng vào Chúa, chân thành với Chúa và phó thác mọi sự cho Người. Tấm lòng ấy của anh đã khiến Chúa “động lòng thương”. Kết quả là “Chúa Giêsu giơ tay đặt trên người ấy và nói: “Tôi muốn, anh hãy khỏi bệnh”. Tức thì bệnh cùi biến mất và người ấy được sạch” (Mc 1,41-42).

Hai thái độ và cách sống đức tin từ hai bài đọc hôm nay phản ánh đời sống đạo của mỗi người Kitô hữu qua mọi thời đại. Thực vậy, dù là người có đức tin nhưng không hẳn mọi Kitô hữu đều tin vững vàng vào Chúa và sống đức tin như Chúa mong muốn. Từ đây, ngay lúc này, Chúa cũng mời gọi mỗi chúng ta xem lại đời sống đức tin của mình trong tương quan với Chúa cũng như với tha nhân.

Trước hết là trong tương quan giữa chúng ta với Chúa. Chúng ta là người có đạo nhưng còn phải có lòng đạo, bởi vì “đạo” ở đây có thể được ví như một danh hiệu còn “lòng đạo” là cái cốt lõi từ bên trong của người có đạo. Điều này cũng hợp với lời nhắn nhủ mà người ta vẫn hay nói với nhau: “Sống cần có một tấm lòng”. “Tấm lòng” được hiểu là “toàn thể những tình cảm thân ái, tha thiết hay sâu sắc nhất đối với người mình yêu quí hay cảm phục”[1]. Đây cũng chính là điều mà Chúa mong ước nơi dân của Người từ trong Cựu ước: “Phải chi họ luôn luôn có một tấm lòng như thế để kính sợ Ta và giữ các mệnh lệnh của Ta mọi ngày, như vậy họ và con cái họ sẽ được hạnh phúc mãi mãi” (Đnl 5,29). Còn trong Tân ước, Chúa Giêsu nói rõ về tầm quan trọng của việc cần có một tấm lòng với Chúa khi Người nhắc lại lời đã viết trong sách tiên tri Isaia: “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng họ thì lại xa Ta” (Mt 15,8). Ước ao của Chúa là thế nhưng thực tế thì con người lại thường hay lợi dụng Chúa. Đó là trường hợp của những người vướng phải suy nghĩ hay lối sống “được thì theo, không thì bỏ”. Đây là kiểu sống hợp ý cá nhân thì theo và làm, không hợp ý hay trái ý thì bỏ hoặc làm ngơ. Cũng có thể coi đó như một kiểu theo đạo bên ngoài còn thực chất bên trong thì trống rỗng. Nếu vướng phải lối sống như thế thì chỉ mới là người có đạo chứ chưa có lòng đạo. Cần phải hiểu rằng đức tin không phải là một mớ lý thuyết hay tín điều phải tin nhưng là một cánh cửa để đưa con người vào trong tương quan với Thiên Chúa thần linh. Tương quan ấy không phải ngày một ngày hai hoặc “mưa nắng thất thường” theo kiểu cho có, cho qua mà có tính bền vững. Vì thế, người có lòng đạo đến với Chúa không phải chỉ để thoả mãn những nhu cầu của mình nhưng quan trọng hơn là đến để gặp gỡ, đến để ở cùng và đến với Chúa để cảm nhận nguồn sức sống và tình yêu nơi Chúa hầu chính bản thân cũng được múc lấy mà làm cho cuộc sống của mình thêm phong phú và vững mạnh. Như thế, người có lòng đạo, nghĩa là “có một tấm lòng với Chúa” là người biết làm mọi sự, mọi việc vì yêu mến Chúa và là người có một đời sống gắn bó thân tình với Chúa. Tuỳ theo hoàn cảnh cho phép, họ cố gắng đến với Chúa trong thánh lễ, trong cầu nguyện, trong giờ kinh gia đình; đồng thời, trong ngày sống, dù vui hay buồn, thành công hay thất bại, thuận lợi hay không thuận lợi, họ cố gắng tìm những giây phút hướng về Chúa và kết hiệp với Chúa trong những lời nguyện tắt đơn sơ hoặc rước lễ thiêng liêng. Nhờ thế, họ luôn có một sức sống đủ mạnh để vui sống giữa đời. Họ không lợi dụng Chúa để bắt Chúa làm theo ý riêng nhưng nhờ tin tưởng, phó thác và kết hiệp với Chúa, họ tìm được bình an. Nhờ một tấm lòng với Chúa nên họ gặp được Chúa, có Chúa trong mình và nhờ đó tìm được hạnh phúc thật!

Từ tương quan với Chúa, chúng ta suy về tương quan giữa chúng ta với tha nhân. Là người Công giáo, chúng ta đều biết cốt lõi của đạo Kitô giáo là: “Mến Chúa yêu người”. Mến Chúa cũng phải trọn tấm lòng và yêu người cũng không miễn trừ điều ấy. Yêu người ở đây không phải yêu chung chung nhưng là yêu những người thân cận. Cụ thể, đó là gia đình của mỗi chúng ta hoặc là cộng đoàn trong đó chúng ta sống điều Chúa dạy. Tương quan này là tương quan yêu thương. Vậy, muốn nó lớn lên và trở nên vững mạnh thì mỗi người phải “có một tấm lòng” với nhau. Đã là tương quan yêu thương, cụ thể là gia đình, mà mỗi thành viên chỉ biết nghĩ và chỉ biết vun xới cho lợi ích cá nhân thì tương quan ấy chắc chắn sẽ èo uột, khô héo và chết dần chết mòn. Đây là thực tế của rất nhiều gia đình thời nay. Với họ, “gia đình” chỉ còn là cái mác, cái vỏ bề ngoài, còn thực chất bên trong đáng lý là tình yêu thì lại là sự ích kỷ! Cái lõi bên trong không có hoặc quá mờ nhạt thì cái vỏ bên ngoài chẳng mấy chốc cũng tan. Cũng có biết bao gia đình bên ngoài xem ra bình thường nhưng bên trong không còn sự tin tưởng, không còn sự gắn bó, không còn biết lo nghĩ cho nhau thì những gia đình ấy thật đau khổ biết dường nào! Đáng buồn thay khi nhiều người, ban đầu thì không để ý, nhưng rồi dần dần tự để mình bị cuốn theo vòng xoáy của đam mê, của các thói quen xấu và những cám dỗ của lối sống dễ dãi, hưởng thụ và cái tôi kiêu căng nên chẳng còn biết quan tâm đến người thân cận của mình. Tệ hơn nữa, có khi người ta sống với nhau nhưng chỉ để lợi dụng nhau vì những toan tính cá nhân thấp hèn. Những suy nghĩ và lối sống ấy khiến gia đình họ không thể gặp được nhau dù vẫn hiện diện trong một nhà; không thể ở cùng nhau để sẻ chia vui buồn, cảm thông những khó khăn hay nâng đỡ khi yếu đuối và cũng chẳng thể có “một tấm lòng với nhau”! Kết cục là đời sống gia đình của họ, thay vì hạnh phúc, thật nặng nề. Yêu theo thói đời như thế thì đúng là tự chúng ta tiễn hạnh phúc đi và rước khổ tâm về cho bản thân và cho người thân cận thôi!

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, Chúa vì yêu mà đến, ở cùng và chết vì chúng con. Chúa làm tất cả vì chúng con mà không tìm điều gì riêng cho Ngài. Qua gương sáng ấy, Chúa dạy chúng con phải có một tấm lòng với Chúa và một tấm lòng với nhau. Đây là điều cốt lõi để chúng con xây dựng tương quan yêu thương với Chúa cũng như với người thân cận. Để làm được điều đó, xin Chúa dạy chúng con tập bỏ những ích kỷ hẹp hòi, những ham muốn cá nhân và cái tôi tự cao để thay vào đó là noi gương Chúa mà sống khiêm nhường, quảng đại và khao khát tìm kiếm và xây dựng cho bản thân và gia đình chúng con những giá trị tốt lành như Chúa dạy. Có như thế, chúng con mới thực sự là những Kitô hữu tốt và là những người sống hạnh phúc cũng như xây dựng hạnh phúc cho người thân cận. Amen.

Thực hành: Tập mỗi ngày làm vài việc hy sinh để cầu nguyện cho người thân yêu.

Lm. Phêrô Trần Lê Thành Nhân

 

 SUY NIỆM 3: CHÚA GIÊSU CHỮA LÀNH NGƯỜI BỊ BỆNH PHONG CÙI

Câu chuyện

Tôi còn nhớ hồi nhỏ, ở ngôi chợ nhỏ gần nhà tôi, thường có một ông bị bệnh phong cùi lê lết xin ăn mỗi sáng. Mỗi lần theo mẹ ra chợ, tôi lại thấy ông với cái lon sữa bò cũ, miệng kêu gào lòng thương xót của mọi người.

Chẳng bao giờ tôi dám lại gần mà chỉ đứng xa xa nhìn lại với lòng thương xót xen lẫn ghê tởm. Con người ông không chỉ dơ bẩn, mà còn toát lên một cái gì đó gớm ghiếc với những miếng vải dính đầy máu và mủ trên bàn tay, bàn chân đã cụt hết ngón. Một vài người đi chợ ngang qua, thả vội những đồng bạc cắc rồi đi như chạy. Có lẽ họ cũng như tôi, dù xót thương cho thân ông ăn mày, nhưng cũng không dám lại gần vì sợ lây bệnh (Theo Vũ Ðình Trọng).

Bệnh phong là một bệnh nhiễm mãn tính, trước đây người ta thường gọi miệt thị là bệnh cùi, bệnh hủi. Những bệnh nhân này thường bị người đời xa lánh vì họ có những vết thương lở loét, hình hài không được bình thường, có người mang bệnh miệng méo xệch, thoáng nhìn người ta có cảm giác khiếp đảm, bệnh nhân xấu hổ cố giấu mặt, cử chỉ che giấu ấy thật tội nghiệp. Có những bệnh nhân phong ngón tay rụng hết chỉ còn trơ bàn tay không ngón, đáng sợ. Nhiều dân tộc hay bộ lạc, coi bệnh phong cùi là một hình phạt và người mang bệnh bị hắt hủi, đuổi ra khỏi nhà và khỏi làng. Họ sống lang thang trong rừng sâu, hay tại những nơi hẻo lánh chết trong cô đơn…

Suy niệm

Bệnh phong, đối với con Do Thái chỉ có Thiên Chúa mới chữa được, bởi vì người mắc bệnh phong mà được lành cũng giống như gọi một người chết về lại với cuộc sống. Trong Kinh Thánh Thiên Chúa ban quyền chữa bệnh phong cho những người đến từ Ngài như Môisê (x. Ds 12,9-14; Xh 4,6-8) và ngôn sứ Êlisê (x. 2V 5,9-14). Vì thế anh cùi trong Tin Mừng Maccô 1,40-45, trông cậy vào Đấng Mêssia – Đấng nhân danh Chúa đến chữa lành bệnh tật, giải thoát giam cầm như ngôn sứ Isaia đã loan báo (x. Is 61,1). Anh tìm đến Chúa Giêsu và thưa với tất cả lòng xác tín: “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể khiến tôi nên sạch”. “Chạnh lòng thương Chúa Giêsu giơ tay đặt trên người ấy và nói: “Ta muốn, anh hãy khỏi bệnh”. Tức thì bệnh cùi biến mất và người ấy được sạch”. Tin Mừng nhiều lần dùng từ “chạnh lòng thương” để nói tấm lòng của Ngài với người đau khổ, bệnh tật…(x. Mt 9,36; 14,14; 15,32; Mc 1,41; Lc 7,13).

Trong khi mọi người tránh xa anh theo Luật, thì Chúa Giêsu lại tiến gần chữa lành cho anh. Ngài chữa người bị bệnh phong cùi không bằng cách như ngôn sứ Êlisê đã làm đối với Naaman, viên quan của Syria, vị ngôn sứ đã truyền cho ông đến tắm gội dòng sông Giodan (x. 2V 5,1-19). Ngài chữa lành với tấm lòng cảm thương, với một lời xác quyết quyền uy của Đấng chiến thắng trên bệnh tật, sự chết và một cử chỉ cầm tay mang ý nghĩa chia sẻ đầy tình liên đới.

Ngày hôm nay trong cuộc sống có các thứ bệnh cùi của tinh thần, của tâm hồn con người: thái độ sống bất công, gian ác, điêu ngoa, dối trá… Chính những hình thức cùi này làm con người vong thân, biến dạng tâm hồn. Không chỉ cuộc sống tinh thần của cá nhân mà cả một xã hội cùi đang được hình thành, bởi những vi rút cùi gian trá điêu ngoa, thiếu thành thật đang hoành hành trong xã hội.

Ý thức được tình trạng cùi hủi của mình do bởi tội lỗi, chúng ta tin tưởng vào Đấng chữa lành là Giêsu như thánh Paschase Radbert đã suy niệm hình ảnh người phong cùi được Ngài chữa lành: “Thiên Chúa chữa lành mỗi ngày tâm hồn của người kêu cầu đến Ngài, tôn thờ Ngài với tâm hồn thánh thiện và tuyên xưng niềm tin dù mang thân phận lầm lỗi: “Lạy Chúa, nếu Ngài muốn, xin cho con được sạch”.

Ý lực sống: “Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con,

mở lượng hải hà xoá tội con đã phạm.

Xin rửa con sạch hết lỗi lầm

tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy”. (Tv 50,3-4).

Lm. Nguyễn Vinh Sơn SCJ

 

SUY NIỆM 4: BÀI HỌC VỀ NIỀM TIN VÀ LÒNG BIẾT ƠN

Tin mừng hôm nay thuật lại việc Chúa chữa cho một người mắc bệnh phong cùi.

1.             Ngày xưa cũng như ngày nay, số phận của những người mắc căn bệnh này rất đáng thương.

Ông Raoul Folereau, vị đại ân nhân của người phong cùi trên thế giới có kể lại mẩu chuyện thương tâm như sau:

“Trong một thị trấn nhỏ nọ, một người đàn ông lâm bệnh nặng. Sau khi khám nghiệm, các bác sĩ nghi ngờ anh ta đã mắc bệnh phong hủiTuy chưa phải là một phán quyết dứt khoát, nhưng kể từ đó người ta không còn thấy anh ra khỏi nhà nữa. Gia đình anh mỗi lúc mỗi xác tín hơn về bệnh tình của anh. Thế là để che dấu con người mà họ coi như là một sự xấu hổ chung, những người thân của anh đã giam anh trong một cái mùng lớn. Người đàn ông đáng thương chỉ còn sống vất vưởng nhờ lương thực tiếp tế mỗi ngày. Ngậm đắng nuối cay từng giờ từng phút, người đàn ông chỉ còn nuôi một hy vọng: đó là bỏ trốn khỏi nhà giam của anh… Ngày nọ, anh đã làm như anh nghĩ nhưng chẳng may, anh đã bị bắt lại. Thế là mọi hy vọng đã hết. Và anh nghĩ chỉ có cái chết mới giải phóng được anh. Nghĩ là làm. Anh đã mua thuốc ngủ và tự vận. Cái chết của anh đã gây chấn động trong dư luận. Người ta yêu cầu cho khám nghiệm tử thi.

Kết quả đã làm cho mọi người sửng sốt: anh đã không bao giờ mắc bệnh phong cùi.

2.            Bài học.

+ Bài học thứ nhất là bài học về niềm tin.

Người cùi trong bài Tin Mừng hôm nay sống nhưng kể như đã chết. Rất may anh đã gặp được Chúa. Và anh đã tin chỉ có Chúa mới có thể cứu anh. Anh tin thật mãnh liệt nên anh đã nói lên lời van xin của anh với Chúa một cách rất mạnh mẽ. “Lạy Thầy, nếu thấy muốn, thầy có thể chữa tôi nên sạch” (Mc 1,40). Chỉ cần Chúa muốn là được tất cả. Và Chúa đã trả lời. Chúa muốn và lập tức bệnh cùi biến mất. Một kết quả hết sức tuyệt vời.

Vâng, đức tin là như thế. Đức tin đem lại những thành tựu thật lớn cho con người tin.

Một bà già kia đã có tuổi đi từ Buffalo đến thăm con gái tại Cleveland trên một chiếc tàu chở khách.

Khi tàu đang chạy giữa biển thì bão tố xảy đến. Ai nấy đều hốt hoảng, lo sợ. Chỉ duy có bà vẫn tỏ ra rất bình tĩnh. Bà vẫn ngồi, cúi đầu cầu nguyện.

Lúc trận bão qua rồi, nhiều người đến hỏi vì sao bà giữ được sự bình tĩnh trong cơn nguy biến như vậy. Bà đáp:

– Tôi có hai người con gái. Một đứa đã qua đời đang ở với Chúa trên Thiên Đàng, còn một đứa ở Cleveland. Trong cơn bão tố, tôi không biết mình sắp gặp đứa nào, nếu phải qua đời, tôi sẽ gặp đứa ở thiên thượng, còn nếu bình yên vô sự, tôi sẽ gặp đứa đang ở đó. Cả hai đều là con yêu dấu của tôi, dù gặp con nào tôi cũng vui mừng sung sướng cả. Vì vậy, trong cơn nguy biến, tôi chỉ chờ đợi mà không lo sợ chút nào.

+ Bài học thứ hai là bài học về lòng biết ơn.

Chúng ta còn nhớ đã có lần Chúa chữa cho 10 người mắc bệnh cùi. Chúa bảo họ đi trình diện với thầy tư tế. Đang khi đi dọc đường thì họ được sạch. Trong 10 người đó chỉ có một người trở lại tạ ơn Chúa. Người cùi trong baì Tin Mừng hôm nay cũng vậy. Mặc dầu đã bị Chúa nghiêm cấm, thế nhưng, anh ta cảm thấy mình không thể không nói lên lời cám ơn. Thế là anh đã cất cao lời tôn vinh Chúa và loan báo về Chúa cho mọi người.

Hôm đó, trên chuyến bay từ Ý về Mỹ, mang theo một số Giám Mục mới đi dự Công đồng Vaticanô II về, có mộ nữ chiêu đãi viên rất xinh đẹp. Suốt chuyến bay, cô rất bực mình vì một đôi mắt cứ nhìn chòng chọc vào cô, và đôi mắt đó không phải của ai khác hơn là Đức Cha Fulton Sheen, vị tông đồ lừng danh nước Mỹ. Khi phi cơ hạ cánh, và đợi cho hành khách xuống hết, vị Giám mục mới tiến đến trước mặt cô, nói nửa nghiêm trang nửa bông đùa:

– Cô đẹp lắm! Cô hãy cám ơn Chúa vì đã cho cô đẹp.

Câu chuyện tưởng như vậy là xong. Có ai dè đâu là mấy hôm sau, có tiếng gõ cửa văn phòng làm việc của Đức Cha Fulton Sheen. Cô chiêu đãi viên hôm nọ xuất hiện một cách đầy tự tin. Cô vào thẳng đề tài:

– Câu nói của Đức Cha mấy bữa trước làm cho con suy nghĩ mãi. Con phải cám ơn Chúa thế nào đây?

– Cô biết trại phong cùi Di linh ở Việt Nam chứ?

– Vâng, con đọc báo có nghe nói đến!

– Chúa đã lấy hết sắc đẹp của những người ở đó mà ban cho cô. Cô hãy qua bên đó an ủi họ.

Vâng! Chỉ từng ấy! Cô chiêu đãi viên trút bỏ cả tương lai huy hoàng, khoác bộ áo nữ tu và sau một thời gian tập sự học hỏi, đã tình nguyện sang Việt Nam phục vụ những người cùi ở Di Linh, để cảm ơn Chúa đã ban cho mình sắc đẹp.

Lm. Giuse Đinh Tất Quý

 

SUY NIỆM 5: CHÚA GIÊ-SU – ĐẤNG CHỮA LÀNH

Trong thời Chúa Giê-su, người mắc bệnh phong không chỉ cảm thấy đau đớn về thể xác nhưng còn cả đau khổ trong tâm hồn vì bị mọi người coi là ô uế và xa lánh. Chúa Giê-su cảm thương và muốn chia sẻ với người bệnh về những gì mà anh đang phải chịu. Chúa không sợ bị người ngoài đánh giá là ô uế nên Người đã đụng chạm tới anh như một dấu chỉ của sự thương yêu, quan tâm và gần gũi. Chính Người, với lời nói “tôi muốn anh được sạch” đã chữa lành người bệnh và đã đưa anh gia nhập lại vào trong cộng đồng tôn giáo và xã hội. Chúa luôn luôn yêu thương con người như vậy và chỉ cần con người biết chạy đến với Chúa giống như anh bị bệnh phong đã quỳ xuống và khẩn xin Người cứu giúp. Như anh bệnh phong đã nhận ra bệnh tật của mình và ngày hôm nay chúng ta cũng được mời gọi không chỉ nhận ra những căn bệnh về thể xác nhưng đồng thời nhìn nhận lại những yếu kém, khuyết điểm trong đời sống tâm hồn để xin Chúa nâng đỡ và chữa lành cho chúng ta.

Lm. Gio-an Trần Văn Viện