THỨ BẢY TUẦN III MÙA CHAY NĂM A
Lc 18,9-14
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo Thánh Luca
9 Khi ấy, Chúa Giêsu nói dụ ngôn sau đây với những người hay tự hào mình là người công chính và hay khinh bỉ kẻ khác: 10 “Có hai người lên đền thờ cầu nguyện, một người biệt phái, một người thu thuế.
11 Người biệt phái đứng thẳng, cầu nguyện rằng: ‘Lạy Chúa, tôi cảm tạ Chúa vì tôi không như các người khác: tham lam, bất công, ngoại tình, hay là như tên thu thuế kia; 12 tôi ăn chay mỗi tuần hai lần, và dâng một phần mười tất cả các hoa lợi của tôi’.
13 Người thu thuế đứng xa xa, không dám ngước mắt lên trời, đấm ngực mà nguyện rằng: ‘Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ có tội’.
14 Ta bảo các ngươi: người này ra về được khỏi tội, còn người kia thì không. Vì tất cả những ai tự nâng mình lên, sẽ bị hạ xuống; và ai hạ mình xuống, sẽ được nâng lên”.
SUY NIỆM 1: ĐƯỢC NÊN CÔNG CHÍNH
Nhìn bề ngoài thì ai cũng thấy người Pha-ri-sêu được đánh giá cao hơn. Ông thuộc tầng lớp đạo đức, được mọi người kính trọng. Làm nhiều việc lành hơn cả luật đòi hỏi.
Người thu thuế bị mọi người khinh miệt. Bị coi là người tội lỗi công khai. Bị coi là người phản quốc, vì tiếp tay với ngoại bang để hà hiếp dân chúng. Bị coi là gian dối, vì thu thuế đồng nghĩa với tham nhũng hối lộ.
Thái độ trong nhà thờ khi cầu nguyện tiếp nối cách sống ở ngoài đời. Người Pha-ri-sêu đứng thẳng người trên cung thánh và lớn tiếng cầu nguyện. Còn người thu thuế quì sụp xuống đất ở cuối nhà thờ, chỉ nài xin Chúa tha tội. Nhưng kết quả trái ngược hẳn với những gì ta thấy bên ngồi. Tại sao?
Người Pha-ri-sêu kiêu ngạo. Thực ra ông không cầu nguyện, ông chỉ khoe khoang và tự đánh giá mình cao hơn người thu thuế. Còn người thu thuế khiêm nhường. Ông cầu nguyện thầm thĩ, đấm ngực ăn năn, và xin tha thứ.
Người thu thuế được nên công chính, người Pha-ri-sêu thì không. Có 3 lý do:
Chúa kết luận: “Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên”. Chẳng ai có quyền tự hào. Tất cả là của Chúa. Tất cả phải trả về cho Chúa. Đó là điều phải làm. Tôi chỉ là đầy tớ vô dụng mà thôi.
“Ta muốn tình yêu chứ không cần hi lễ, thích được các ngươi nhận biết hơn là được của lễ toàn thiêu”. Thiên Chúa là tình yêu và giầu có vô cùng. Người chỉ cần tình yêu chứ không muốn gì khác. Người thu thuế đến với Chúa bằng tấm lòng yêu mến và nghèo công phúc. Nên được công chính.
Thư Rôma 3, 27: “Người ta được nên công chính vì tin, chứ không phải vì làm những gì Luật dạy”. Người Biệt phái làm điều luật dạy, nên tự hào. Người thu thuế chẳng dám tự hào, chỉ tin vào lòng thương xót của Chúa. Nên ông được công chính.
Mùa Chay là lúc ta nhận biết mình tội lỗi, yếu hèn và không thể tự mình đạt được ơn cứu độ. Ta hãy noi gương người thu thuế nhận thức tội lỗi của mình. Nài xin ơn tha thứ. Cậy trông vào lòng thương xót của Chúa, để ta được công chính, được ơn cứu độ.
TGM Giuse Ngô Quang Kiệt
SUY NIỆM 2: SỐNG KHIÊM NHƯỜNG TRƯỚC MẶT CHÚA
Ai trong chúng ta cũng đã một lần trải qua kinh nghiệm mang trong mình một vết thương trên thân xác hoặc trong tâm hồn. Khi mang vết thương, chúng ta cảm thấy đau đớn, nhưng khi vết thương được chữa lành, chúng ta được hưởng một niềm vui khôn tả. Niềm vui được chữa lành làm chúng ta quên đi những đau đớn mà chúng ta đã phải chịu đựng. Đây chính là kinh nghiệm của dân Israel được Ngôn sứ Hôsê nói đến trong bài đọc 1 hôm nay. Chính niềm vui được Thiên Chúa chữa lành là động lực để họ trở về với Chúa. Chúng ta có thể nhận ra trong bài đọc 1 hôm nay hai thái độ sau: thái độ kiên định của dân Israel khi quyết định trở về với Thiên Chúa và thái độ “đòi hỏi” tình yêu nơi dân Israel khi họ trở về. Đây chính là hai thái độ chúng ta cần suy gẫm trong tương quan mỗi ngày của chúng ta với Thiên Chúa.
Hôsê trình bày quyết tâm trở về của dân Israel trong những lời thật cảm động: “Con cái Israel bảo nhau rằng: ‘Nào chúng ta hãy trở về cùng Đức Chúa. Người đã xé nát thân chúng ta, nhưng rồi lại chữa lành. Người đã đánh đập chúng ta, nhưng rồi lại băng bó vết thương’” (Hs 6:1). Dân Israel trở về vì họ biết chắc một điều là Đức Chúa sẽ đoái thương đến họ sau khi sửa phạt những lỗi lầm của họ. Hôsê trình bày kinh nghiệm trở về này của dân Israel như là kinh nghiệm phục sinh của Chúa Giêsu: “Sau hai ngày, Người sẽ hoàn lại cho chúng ta sự sống; ngày thứ ba, sẽ cho chúng ta trỗi dậy, và chúng ta sẽ được sống trước nhan Người” (Hs 6:2). Nói cách khác, khi trở về với Chúa, dân Israel sẽ được biến đổi và sống một đời sống mới mà Thiên Chúa ban cho họ. Để đạt được điều đó, họ phải ra sức nhận biết Thiên Chúa khi Ngài đến như hừng đông mỗi ngày xuất hiện và như mưa rào, như mưa xuân tưới gội đất đai (x. Hs 6:3). Chỉ khi nhận ra Thiên Chúa xuất hiện trong từng giây phút sống, chúng ta mới có thể đáp lại và sống trọn vẹn theo sự hướng dẫn của Ngài. Vậy, hãy tỉnh thức để nhận ra Chúa đến với chúng ta trong những sự kiện nhỏ bé của đời sống thường ngày.
Nỗi lòng của Thiên Chúa mỗi khi dân Israel và chúng ta đi lạc xa khỏi tình yêu của Ngài là Ngài vẫn mong chờ họ và chúng ta với một tình yêu tuyệt đối. Chính tình yêu tuyệt đối của Thiên Chúa mời gọi chúng ta phải đáp lại với tình yêu, chứ không phải với hy lễ (x. Hs 6:6): “Vì Ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ, thích được các ngươi nhận biết hơn là được của lễ toàn thiêu.” Ngài muốn chúng ta nhận ra Ngài là Thiên Chúa của chúng ta chứ không phải là những ngẫu tượng. Ngài cũng nhắc nhở chúng ta về tình yêu chóng tàn của chúng ta: “Tình yêu của các ngươi khác nào mây buổi sáng, mau tan tựa sương mai” (Hs 6:4). Thiên Chúa muốn nơi chúng ta một tình yêu kiên định và trung thành. Không ai trong chúng ta muốn người khác yêu mình với một “tình yêu bốn mùa” – sáng nắng, chiều mưa, trưa lâm râm và tối sương mù. Ai cũng mong người khác yêu mình với một tình yêu không thay đổi và trung thành. Thiên Chúa luôn yêu chúng ta với tình yêu trung thành và vô điều kiện, và Ngài cũng mong chúng ta yêu lại Ngài với một tình yêu chân thật và trung thành.
Bài Tin Mừng hôm nay là một lời cảnh tỉnh cho những ai trong chúng ta xem mình là đạo đức, thánh thiện hơn và hay xét đoán người khác. Thánh Luca trình bày mục đích của dụ ngôn ngay trong câu đầu tiên: “Khi ấy, Đức Giêsu kể dụ ngôn sau đây với một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác” (Lc 18:9). Chúng ta có bao giờ khinh chê người khác không? Nếu có, hãy suy gẫm bài Tin Mừng hôm nay và thay đổi.
Tuy nhiên, trước khi phân tích cách chi tiết bài Tin Mừng, chúng ta cần lưu ý hai điểm sau: Thứ nhất, Chúa Giêsu nói dụ ngôn này cho các môn đệ là những người theo Ngài phải biết về điều kiện để được vào Nước Thiên Chúa, đó là, không phải chỉ dựa vào những công việc đạo đức của họ, nhưng hoàn toàn vào lòng thương xót của Thiên Chúa; thứ hai, Chúa Giêsu dạy các môn đệ trong dụ ngôn hôm nay về thái độ cần có khi cầu nguyện sau khi khuyên các môn đệ phải cầu nguyện luôn qua dụ ngôn quan toà bất chính và bà goá quấy rầy (Lc 18:1-8). Nói cách khác, Chúa Giêsu muốn các môn đệ mặc lấy thái độ của người thu thuế mỗi khi cầu nguyện với Chúa. Như vậy, thái độ của người thu thuế là điều Luca nhắm đến chứ không phải là sự so sánh giữa người Pharisêu và người thu thuế. Thánh Luca dùng sự tương phản để làm sáng tỏ điều ngài muốn nhấn mạnh, giống như dùng sự tương phản giữa màu đen và trắng để làm nổi bật nhau.
Chi tiết đầu tiên chúng ta lưu ý trong dụ ngôn này là việc Thánh Luca sử dụng “cặp đôi” của Kinh Thánh để áp dụng cho dụ ngôn của mình. Thánh Luca đã sử dụng phương pháp này trong dụ ngôn người cha nhân hậu trong chương 15:11-32 – “Người kia có hai người con” (c.11). Dụ ngôn trong bài Tin Mừng hôm nay cũng bắt đầu tương tự như thế: “Có hai người lên đền thờ cầu nguyện” (Lc 18:10). Và như chúng ta đã biết, một trong hai người sẽ được khen, còn người kia sẽ bị khiển trách. Đây là bối cảnh để chúng ta hiểu dụ ngôn. Bây giờ, chúng ta tập trung vào thái độ của người Pharisêu và người thu thuế để rút ra những điều cần tránh và những điều cần học khi đến với Chúa.
Thái độ của người Pharisêu: ông ta tự xem mình là người công chính. Thánh Luca không liên kết sự công chính với đức tin như Thánh Phaolô. Ngài nhấn mạnh đến ba yếu tố sau đây về sự công chính: (1) sự tự phụ về những việc tốt mình làm sẽ không làm chúng ta tránh khỏi phán xét của Thiên Chúa; (2) như Chúa Giêsu, chúng ta phải thực hiện những hành vi công chính như bố thí; và (3) Thiên Chúa là Đấng làm cho chúng ta nên công chính với ơn của Ngài, chứ không phải với việc làm tốt của chúng ta. Ba yếu tố này không tìm thấy trong thái độ của người Pharisêu khi đến với Chúa. Ông ta tự “công chính hoá” chính mình qua những việc tốt của mình: “Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con” (Lc 18:11-12). Người Pharisêu thật sự không sai. So về đời sống đạo đức, ông ta thật sự đạo đức hơn người thu thuế nhiều. Cái sai của ông chính là nâng mình lên trở thành “chúa” qua việc “công chính hoá” chính mình. Nói cách khác, ông ta biến mình làm tiêu chuẩn để đo lường đúng sai, và như thế ông chiếm lấy vị trí của Thiên Chúa là tiêu chuẩn tuyệt đối đời sống luân lý của con người. Đây là thái độ chúng ta cần phải tránh khi đến với Chúa trong cầu nguyện: hãy để Chúa là Chúa và nhận ra thân phận của mình trước mặt Chúa.
Thái độ của người thu thuế: “Còn người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng: ‘Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi” (Lc 18:13). Ông ta nhận ra thân phận tội lỗi của mình trước mặt Thiên Chúa. Và ông không công chính hoá chính mình vì ông biết rằng đó là việc của Thiên Chúa. Khác với người Pharisêu, người thu thuế đến với Thiên Chúa trong tương quan giữa Đấng Tạo Hoá và tạo vật; còn người Pharisêu đến với Thiên Chúa trong tương quan của một tạo vật đặt mình vào vị trí của Đấng Tạo Hoá. Hành vi đấm ngực của người thu thuế là dấu hiệu của sám hối. Hành vi đấm ngực này được Thánh Luca sử dụng lại và gán cho những người chứng kiến Chúa Giêsu chết trên Thánh Giá (Lc 23:48). Học nơi người thu thuế, chúng ta không kể công khi đến với Chúa, mà chỉ kể cho Chúa nghe những thất bại và tội lỗi của chúng ta để xin Ngài tha thứ và thánh hoá chúng ta. Nhìn từ khía cạnh này, cầu nguyện chính là “kể cho Chúa nghe những yếu đuối, tội lỗi của mình và xin Chúa dủ lòng thương.” Đây chính là thái độ Chúa Giêsu muốn các môn đệ phải có khi cầu nguyện.
Bài Tin Mừng kết thúc với nhận định của Chúa Giêsu về tình trạng của người Pharisêu và người thu thuế, đồng thời khuyến cáo các môn đệ phải cẩn thận về việc phô trương chính mình: “Tôi nói cho các ông biết: người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi; còn người kia thì không. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 18:14). Người thu thuế được nên công chính vì ông nhận ra mình cần lòng thương xót của Thiên Chúa và đã tỏ ra ăn năn về tội lỗi của mình; còn người Pharisêu thì không cần đến lòng thương xót của Thiên Chúa vì ông đã tự cho mình là công chính. Về phần chúng ta, khi đến với Chúa, chúng ta đang mang thái độ và tâm tình của ai: người Pharisêu hay người thu thuế?
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
SUY NIỆM 3: HÃY NGHE NGƯỜI
Câu chuyện
Khi nghe thiên hạ kháo láo và gọi mình là thánh, thì thánh Phanxicô Salê nói rằng: “Thiên hạ gọi tôi là thánh, vì họ thấy tôi làm việc thánh; nhưng chắc cha linh hướng của tôi không nghĩ như họ đâu”.
Phanxicô nghe nói ông De Belley phê bình và bảo ngài thiếu trí phán đoán. Khi gặp ông, ngài liền ôm lấy, và tỏ vẻ vui sướng và biết ơn.
Suy Niệm
Người biệt phái: Tuân giữ luật Môisê một cách nghiêm ngặt và người thu thuế, bị dân chúng khinh miệt và xa lánh như tránh xa người phong hủi, người tội lỗi. Người biệt phái với bước đi hãnh diện tiến vào đền thờ trước những con mắt ngưỡng mộ. Người thu thuế, vào đền thờ với bước đi nhẹ nhàng như kẻ trộm trốn tránh cái nhìn của người đời…
Người biệt phái bên cung thánh cất lời vang vang “con không như kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình hoặc, như tên thu thuế kia”(Lc 18,11). Lời cầu nguyện đầy hãnh diện. Anh khoe sự đạo đức cho mọi người thấy mình thánh thiện và đấm ngực người thu thuế quân tội lỗi. Đạo đức là một điều tốt, nhưng tự hào về đạo đức của mình lại là một nguy cơ: Vì cho rằng sự thánh thiện của mình làm nên sự công chính. Coi sự cố gắng của mình trên cả ân sủng. Chính sự thánh thiện của mình che lấp sự thánh tuôn trào hồng ân của Thiên Chúa. Anh tự hào, cái tự hào tự mãn làm anh cảm thấy không cần nhu cầu ơn thánh và tình thương của Thiên Chúa, không cần cậy dựa vào Ngài. Tin tưởng tự mình có thể công chính hóa cho mình. Chính lúc tự hào, đóng kín với ân sủng, người biệt phái đã mất ơn Chúa và không còn công chính nữa. Hơn nữa sai lầm lớn nhất khi anh dám so sánh mình “thánh” với “tội” của người khác, Chúa Giêsu đã nói: “Sao ngươi dòm thấy cái rác trong mắt anh em ngươi, mà chẳng thấy cái đà trong mắt mình?” (Mt 7,3). Là con người bất toàn, ai cũng có lỗi, nhưng anh chỉ thấy cái thánh thiện để khỏa lấp bao che cho chính tội lỗi của mình. Qua hình ảnh của người biệt phái, hôm nay chúng ta nghiệm thấy tinh thần của Chúa Giêsu muốn giáo huấn chúng ta: Bản thân con người không thể làm cho mình nên thánh thiện, nếu chỉ nhờ thi hành những việc đạo đức, nhưng luôn cần ân sủng và nương nhờ vào tình thương vô biên của Thiên Chúa.
Người thu thuế thì không dám ngẩng đầu, không tiến về cung thánh nhưng ẩn khuất cuối đền thánh, anh cúi đầu thú tội: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi” (Lc 18,13). Anh ý thức mình là một tội nhân, kẻ ngang hàng với bọn đĩ điếm (x. Mt 21,31-32). Anh đấm ngực xin Thiên Chúa thứ tha, tẩy rửa tâm hồn. Anh làm thức dậy tâm tình sách Khôn ngoan: “Lời cầu nguyện khiêm nhu xuyên qua những đám mây, nó không nghỉ ngơi cho đến khi nó đạt được mục đích”.
Thật thế, Thiên Chúa đã cúi xuống với người thu thuế và đáp lại lời nài xin của anh, vì anh chỉ biết dựa vào lòng thương xót đầy tình yêu của Ngài. Sự trở lại và canh tân của anh trong ân sủng. Hình ảnh đó làm chúng ta cảm nghiệm lời chia sẻ của thánh Phaolô tông đồ trong thư gửi giáo đoàn Rôma: “Ở đâu tội lỗi ngập tràn, thì ân sủng càng chứa chan gấp bội” (Rm 5,20).
Chúng ta mang tâm tình khiêm cung trước Thiên Chúa, đấm ngực sám hối và mở lòng xin Ngài tiếp tục làm điều kỳ diệu trong chính mình: Tâm hồn luôn đổi mới ngập tràn tình yêu.
Chúa thứ tha, Chúa ban ơn
Từ nay con sống tâm tình an vui.
Ý lực sống: “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15).
Lm. Nguyễn Vinh Sơn SCJ
SUY NIỆM 4: TIN TƯỞNG VÀO TÌNH THƯƠNG THA THỨ CỦA CHÚA
1. Lời Chúa hôm nay rất dịu dàng, kêu gọi chúng ta tin tưởng vào tình thương tha thứ của Chúa, kêu mời chúng ta dâng lên Ngài những tội lỗi và yếu đuối của chúng ta:
Đây là lời của một bản thánh ca: con chẳng có gì dâng Chúa hôm nay.
Một đêm Giáng Sinh nọ, Thánh Giêrônimô đang quỳ bên máng cỏ để Suy Niệm về mầu nhiệm Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người, thì bỗng Chúa Hài Đồng hiện ra trong vầng sáng chói loà. Ngài hỏi thánh nhân:
- Giêrônimô, con có gì làm quà cho Ta trong ngày Ta giáng sinh không?
- Lạy Chúa Hài Đồng, thánh nhân đáp, con xin dâng Chúa trái tim của con.
- Được lắm, nhưng còn gì khác nữa không?
- Lạy Chúa, con xin dâng Chúa tất cả những gì con có và tất cả những gì con có thể.
- Con còn điều gì khác nữa không?
- Nào con còn có điều gì khác để dâng Chúa nữa đâu! Thánh nhân khẩn khoản thưa.
Chúa Hài Đồng bảo:
- Này Giêrônimô, hãy dâng cho ta cả những tội lỗi của con nữa.
- Ôi lạy Chúa, thánh nhân hốt hoảng hỏi lại, làm sao con dâng cho Chúa tội lỗi của con được?
- Được chứ! Ta muốn con dâng cho Ta tội lỗi của con để Ta có thể tha thứ cho con. Đó là điều Ta rất mong đợi.
Nghe thế, thánh nhân bật khóc vì sung sướng. (Trích “Món quà giáng sinh”)
2. Lời Chúa hôm nay cũng muốn nhắc nhớ chúng ta về sự cầu nguyện. Qua dụ ngôn này, chúng ta thấy được một số gợi ý cho chúng ta:
a. Người kiêu ngạo không thể cầu nguyện. Cửa lên trời rất thấp nên chỉ ai biết quì gối xuống mới vào được. Có một bài cầu nguyện của một Rabbit Do Thái mà người ta ghi lại được. Bài cầu nguyện đó như sau:
“Lạy Giavê là Thiên Chúa của tôi, tôi cảm tạ Ngài vì Ngài đã đặt tôi dự phần với những viện sĩ trong Hàn lâm viện chứ không phải ngồi chung với những kẻ đầu đường xó chợ. Vì tôi dậy sớm thì chúng cũng dậy sớm, tôi dậy sớm để học luật pháp Chúa, còn chúng dậy sớm vì những sự hư không. Tôi làm việc, chúng cũng làm việc. Tôi làm việc và lãnh phần thưởng, còn chúng làm việc và không được lãnh phần thưởng. Tôi chạy và chúng cũng chạy, tôi chạy tới sự sống của đời sau, còn chúng chạy tới hố diệt vong”.
Người ta nói, Rabbit Simon ben Gacai đã có lần nói: “Nếu chỉ có hai người công chính trên thế gian thì đó là tôi và con trai tôi; nếu chỉ có một người công chính thì người đó là tôi”. Người Pharisêu này thực ra không đến Đền thờ để cầu nguyện. Ông ta đến để nói cho Thiên Chúa biết ông ta tốt như thế nào.
b. Người nào khinh dể anh em mình cũng không có thể cầu nguyện. Trong khi cầu nguyện, chúng ta không được nâng mình lên trên kẻ khác. Cần nhớ rằng, chúng tôi là một phần nhân loại đang phạm tội, đang đau khổ, đang âu sầu, tất cả đang quì gối trước ngai xót thương của Thiên Chúa.
c. Chỉ có sự cầu nguyện thật khi chúng ta biết đặt đời sống mình bên cạnh sự sống của Thiên Chúa. Chúng ta không hồ nghi điều mà người Pharisêu trong Tin Mừng hôm nay đã nói. Tất cả đều đúng. Ông ta đã ăn chay và đã kỹ lưỡng dâng 1/10, ông ta đã không giống người khác, lại càng không giống người thâu thuế bên cạnh ông. Nhưng vấn đề không phải là “Tôi có tốt như kẻ khác chăng?” nhưng là “Tôi có tốt như Chúa không?”
Trong cuốn “Tâm Hồn Nhật Ký”, Đức Gioan XXIII đã ghi lại tất cả cuộc sống thiêng liêng của ngài, trong đó phần quan trọng nhất là phần ghi lại những lần tĩnh tâm từ lúc còn ở chủng viện (1898) cho đến những năm trên ngôi Giáo Hoàng (1963). Đối với ngài, mỗi lần tĩnh tâm là mỗi lần kiểm điểm lại cuộc đời và có quyết định mới. Đặc biệt là lúc đã ngoài 80 tuổi, gần từ giã dương thế, mặc dù ở trên ngôi Giáo Hoàng bận rộn muôn vàn công việc đại sự, ngài vẫn thường xuyên tự kiểm điểm. Ngài luôn quyết tâm sống xứng đáng là một tâm hồn cao cả, muốn sửa đổi mình liên lỉ để sống đẹp lòng Chúa cho đến giây phút cuối cùng, sống thế nào đó cho được giống như Người.
Như vậy, tất cả là tùy ở chỗ chúng ta so sánh mình với đối tượng nào. Khi chúng ta đặt đời sống mình bên cạnh đời sống kỳ diệu của Chúa Giêsu, bên cạnh sự thánh thiện của Thiên Chúa, thì chúng ta chỉ có thể nói “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi khốn nạn”.
Mẹ Têrêsa phụ hoạ thêm:
Cầu nguyện sẽ mở rộng hơn tấm lòng của bạn, mãi tới mức lòng bạn lớn đủ, để chứa cả món quà tặng là chính Thiên Chúa.
Cầu nguyện không đòi chúng ta bỏ dở công việc nhưng đòi chúng ta tiếp tục làm việc vì làm việc cũng là cầu nguyện.
Cầu nguyện dẫn tới đức tin, đức tin dẫn tới tình yêu, tình yêu đưa tới phục vụ vì lợi ích người nghèo.
Lạy Chúa, xin làm con nên dụng cụ phục vụ mọi người trên thế giới với tình yêu thương như Chúa. Amen.
Lm Giuse Đinh Tất Quý
SUY NIỆM 5: CHÚA THA TỘI KHI CHÚNG TA KHIÊM NHƯỜNG
Một người biệt phái và một người thu thuế cùng đến nhà thờ cầu nguyện với Chúa. Hai người có các hoàn cảnh sống khác nhau, người biệt phái thì sang trọng, tự tin, còn người thu thuế thì có vẻ nhút nhát, bẩn thỉu, thiếu tự tin trước nhan thánh Chúa. Kết quả là Chúa chỉ nhận lời cầu nguyện của người thu thuế, còn người biệt phái thì Chúa không nhận lời. Điều này gợi cho chúng ta nhớ lại ngày xa xưa trong sách Sáng Thế, Cain là anh của Abel, hai anh em cùng dâng lễ vật cho Chúa, Chúa chỉ nhận lễ vật của Abel còn Cain thì Chúa không nhận. Tại sao cùng cầu nguyện như nhau, nhưng có người Chúa nhận lời, có người lại không được nhận lời. Có người được Chúa ban ơn, có người Chúa không ban ơn.
Khi chúng ta cầu nguyện với Chúa, việc Chúa có nhận lời cầu xin của chúng ta hay không là do tấm lòng của chúng ta. Nếu chúng ta có một tấm lòng tự tin quá mức, khoe khoang, so sánh để tôn mình lên, coi thường người khác: “Có hai người lên đền thờ cầu nguyện, một người biệt phái, một người thu thuế. Người biệt phái đứng thẳng, cầu nguyện rằng: “Lạy Chúa, tôi cảm tạ Chúa vì tôi không như các người khác: tham lam, bất công, ngoại tình, hay là như tên thu thuế kia; tôi ăn chay mỗi tuần hai lần, và dâng một phần mười tất cả các hoa lợi của tôi” (Lc 18, 11 – 12), thì Chúa sẽ không nhận lời cầu xin của chúng ta. Còn nếu chúng ta có lòng khiệm nhường, hạ mình xuống, biết mình là thụ toàn, bất xứng, tội lỗi, chẳng xứng đáng được Chúa nhận lời, và khi làm được bất cứ việc lành gì là cũng là nhờ ơn Chúa và kết quả chẳng là gì so với tội lỗi của chúng ta phạm đến Chúa quá lớn, thì Chúa sẽ nhận lời chúng ta : “Người thu thuế đứng xa xa, không dám ngước mắt lên trời, đấm ngực mà nguyện rằng: Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ có tội” (Lc 18, 13). Như vậy, khi Chúa đã nhận lời cầu xin của chúng ta rồi, Chúa sẽ ban ơn cho chúng ta: “Ta bảo các ngươi: người này ra về được khỏi tội, còn người kia thì không. Vì tất cả những ai tự nâng mình lên, sẽ bị hạ xuống; và ai hạ mình xuống, sẽ được nâng lên” (Lc 18, 14).
Trong cuộc sống đạo hàng ngày của chúng ta, Chúa ban ơn cho tất cả mọi người, Chúa không bỏ một ai: “Vì Chúa cho mặt trời của Chúa mọc lên soi sang cho kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính” (Mt 5, 45), thế nhưng có người sử dụng ơn Chúa rất tốt, sinh lợi cho mình, và tha nhân, có người lại để ơn Chúa qua đi mà không có kết quả gì cả, đôi khi còn vong thân mình nữa. Tại sao lại như thế? Là vì chúng ta không có lòng khiêm nhường, không biết thân phận mình là thụ tạo để cậy nhờ Chúa thì chúng ta phải thất bại, khổ đau mà thôi.
Lạy Chúa, trong Mùa Chay thánh này, Chúa muốn tình yêu chứ Chúa không muốn lễ tế, xin Chúa ban ơn giúp chúng con biết sống khiêm nhường, lúc nào cũng thấy mình bé nhỏ, tội lỗi, bất xứng để xin Chúa xót thương tha thứ tội lỗi cho chúng con, và chúng con có được những gì trong cuộc sống là nhờ ơn Chúa ban, chứ chúng con chẳng có công trạng chi để chúng con sử dụng ơn Chúa cho nên, không phụ lòng Chúa. Amen.
Lm. Micae Võ Thành Nhân
