THỨ BẢY TRONG TUẦN BÁT NHẬT PHỤC SINH NĂM A

Mc 16,9-15

 

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo Thánh Mac-cô

9 Sau khi sống lại vào lúc tảng sáng ngày thứ nhất trong tuần, Đức Giê-su hiện ra trước tiên với bà Ma-ri-a Mác-đa-la, là kẻ đã được Người trừ cho khỏi bảy quỷ. 10 Bà đi báo tin cho những kẻ đã từng sống với Người mà nay đang buồn bã khóc lóc. 11 Nghe bà nói Người đang sống và bà đã thấy Người, các ông vẫn không tin.

12 Sau đó, Người tỏ mình ra dưới một hình dạng khác cho hai người trong nhóm các ông, khi họ đang trên đường đi về quê. 13 Họ trở về báo tin cho các ông khác, nhưng các ông ấy cũng không tin hai người này.

14 Sau cùng, Người tỏ mình ra cho chính Nhóm Mười Một đang khi các ông dùng bữa. Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng, bởi lẽ các ông không chịu tin những kẻ đã được thấy Người sau khi Người trỗi dậy. 15 Người nói với các ông: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.

 

SUY NIỆM 1: NIỀM TIN PHỤC SINH

Câu chuyện

Số giáo dân thêm nhiều, và hầu hết các họ đạo đứng vững được trong thử thách, dù lâu ngày vắng linh mục, một phần lớn còn là nhờ hoạt động tông đồ giáo dân của một số người nhiệt thành với công cuộc của nước Chúa.

Ở Trại Mỹ (Chaimi) tỉnh Quảng Nghĩa (nay là tỉnh Quảng Ngãi), cha Đắc Lộ gặp gia đình ông cụ Phaolô và bà Mônica. Tuy bị lòa cả hai mắt, nhưng ông cụ rất nhiệt thành truyền giáo: Cụ thật là linh hồn sống động của họ đạo đó. Các ngày Chúa Nhật và lễ trọng, cụ họp giáo dân trong căn nhà, trong khu nhà cụ và cụ giảng dạy khuyên răn họ.

Cụ còn giúp cho họ tất cả mọi phương tiện cần thiết để bảo vệ đức tin họ đã được lãnh nhận. Lòng nhiệt thành của cụ lan rộng ra với tất cả những người ngoại đạo và giúp được nhiều người sẵn sàng chịu phép rửa. Thiên Chúa lại cho cụ có quyền trên cả ma quỷ. Những người bị quỷ ám vùng đó đều được cụ trừ quỷ (Lm. Nguyễn Hồng, Lịch sử truyền giáo tại Việt Nam).

Suy niệm

Khi gặp được Ðức Giêsu Phục Sinh, Maria ra đi loan báo cho các môn đệ nhưng họ không tin. Hai môn đệ bỏ về quê Emmaus gặp được Chúa Phục Sinh, trở về Giêrusalem báo tin, họ cũng chẳng tin. Cuối cùng, chính Ðức Giêsu hiện ra với nhóm Mười một cho các ông chứng nghiệm nhãn tiền và quở trách lòng cứng tin của họ.

Khi các môn đồ nhận được niềm tin Phục sinh của Thầy mình, họ thay đổi hẳn: Thay vì sợ hãi, yếu tin luôn trốn tránh ban đầu khi Thầy chết, họ đã mạnh mẽ dám công nhiên tuyên bố rằng thời điểm Thiên Chúa thi ân nay đã đến như Đức Giêsu đã báo trước. Họ tin rằng Đức Giêsu đã “sống lại” và “nước của Đức Chúa” đã đến. Các môn đệ cũng loan báo tin mừng Chúa sống lại cho khắp tận cùng thế giới: “Chính Đức Giêsu đó, Thiên Chúa đã làm cho sống lại; về điều này tất cả chúng tôi xin làm chứng” (Cv 2,32). Thánh Phêrô loan báo Đức Kitô sống lại trước toàn dân Israel (x. Cv 3,14-16) và trước Thượng hội đồng Do Thái mà không chút sợ hãi (x. Cv 4, 10), sự sống lại và Phục sinh của Thầy đã đánh chết cái sợ, cái sợ đã từng làm ông chối Thầy (x. Mt 26,69-75; Mc 14,66-72; Lc 22,56-62; Ga 18,25-27). Phaolô, người đã từng không tin và đi bắt đạo Chúa, sau lại xác tín mạnh mẽ: “Chúa chúng ta, từ cõi chết sống lại” (x. Rm 4,24; 8,11; 2Cr 4,14; Gl 1,1; Ep 1,20; Cl 2,12). Phaolô cũng đã tuyên xưng cùng một niềm tin Chúa Kitô Phục sinh cho dân Israel (x. Cv 13,33; 17,3) và trước Thượng hội đồng Do Thái (x. Cv 23,6), cho cả dân ngoại khắp nơi ông đến (x. Cv 17,31). Môn đệ Philipphê loan truyền tin mừng Chúa Phục sinh cho viên thái giám Êtiôpia (x. Cv 8,35).

Đức Kitô hằng sống là ý nghĩa và là cùng đích cuộc đời của họ, vì thế chỉ một nhóm nhỏ sống niềm tin Đức Kitô sống lại đã làm dậy sóng cả thế giới như Suzanne de Diétrich đã quả quyết: “Sự xác thực của Phục sinh đã xây dựng Giáo hội. Không có sự việc Phục sinh, không bao giờ có Giáo hội Kitô”. Với thánh tông đồ Phaolô: Chính niềm tin Phục sinh chi phối mọi sinh hoạt của vị tông đồ này (x. Gl 2,20; 6,14-18), và ông chỉ sống để làm chứng cho một chân lý duy nhất: Đức Kitô đã chết và đã sống lại (x. 1Cr 15; Rm 4,24-25; 6,4.9;7,4...). Cuối cùng, cũng vì niềm tin sống lại, Phaolô đã hy sinh mạng sống mình tại Rôma.

Niềm tin Phục sinh đã bén rễ sâu và được thực hiện nơi người tín hữu qua mọi thời đại bằng lời nói, bằng lòng can đảm, đôi khi bằng chính mạng sống mình. Cũng chính niềm tin đó mà thánh Stêphanô đã trở nên chứng nhân đầu tiên và trải qua nhiều thế kỷ mãi cho đến ngày nay các chứng nhân tử đạo vẫn nối tiếp làm chứng nhân cho niềm tin Phục sinh, bất chấp mọi thứ kể cả cái chết. Đó là niềm tin của Giáo hội: Đức Kitô Phục sinh và chúng ta cũng được phục sinh.

Ý lực sống: “Nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng và cả đức tin của anh em nữa cũng trống rỗng... và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em” (1Cr 15,14.17).

Lm. Nguyễn Vinh Sơn SCJ

 

SUY NIỆM 2:

Sự kiện Ðức Giêsu Phục Sinh không được các Tông Ðồ dễ dàng chấp nhận. Cụ thể khi Maria Mácđala ra viếng mộ, trở về báo tin cho các ông biết về những sự việc đã xảy ra, nhưng các ông vẫn không tin.

Hai môn đệ trên đường về làng Emmau, sau khi được Chúa phục sinh hiện ra đồng hành và qua cử chỉ bẻ bánh, hai ông đã nhận ra Chúa và ngay lập tức hai ông quay trở lại Giêrusalem để báo tin cho các tông đồ được biết Chúa đã phục sinh, nhưng các ông vẫn chưa tin. Cuối cùng, chính Ðức Giêsu lại hiện ra với nhóm Mười Một và quở trách thái độ cứng lòng tin của họ.

Điều đó chứng tỏ rằng; các tông đồ không phải là những người nông nổi dễ tin. Nhưng chính vì thái độ cứng lòng tin của các ông, cho đến khi các ông tin rằng: Chúa đã phục sinh, thì niềm tin ấy mới thực sự là chân lý.

Khi thấy thái độ cứng tin của các tông đồ, nhiều người có thể khiển trách các ông. Nhưng thực sự, ta phải cám ơn các ngài. Vì nếu các tông đồ nông nổi dễ tin, thì có thể ngày nay, chính chúng ta lại hoài nghi và cho rằng: các ông nông nổi hay cuồng tín. Nhưng vì thái độ cứng tin ấy chính là chứng cớ chắc chắn để chúng ta xác tín rằng Chúa đã phục sinh.

Sau khi hiện ra lần nữa, Chúa đã trao cho các ông một lệnh truyền rằng: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin mừng cho mọi loài thụ tạo”. Đây không phải chỉ là mệnh lệnh dành riêng cho các tông đồ mà là sứ mệnh Chúa trao cho mỗi người chúng ta.

Ước gì mỗi người chúng ta cũng hãy trở thành chứng nhân loan báo Tin mừng phục sinh của Chúa cho những người chưa nhận biết Chúa, những người còn ngồi trong bóng tối tử thần, để họ nhận ra ánh sáng cứu độ của Chúa Kitô phục sinh, để họ trở thành con cái Thiên Chúa và trở thành anh em của chúng ta. Amen.

Lm. Phêrô Mai Viết Thắng

 

SUY NIỆM 3: ĐEM NIỀM VUI PHỤC SINH ĐẾN CHO MỌI NGƯỜI

1. Bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe là phần cuối của Tin Mừng Marcô. Đoạn này có lẽ không phải do Marcô viết mà do một người nào đó viết thêm vào. Đây là một bản tóm lược 3 cuộc hiện ra của Chúa Giêsu sau khi Ngài từ cõi chết sống lại:

Chúa hiện ra cho Maria Mađalêna.

Chúa hiện ra cho hai môn đệ đi đàng Emmau.

Và Chúa hiện ra cho mười một tông đồ.

Đoạn Tin Mừng này nhấn mạnh:

- Thái độ không tin của các tông đồ: Không tin lời của Maria Mađalêna, cũng không tin lời của hai môn đệ Emmau.

- Chúa Giêsu khiển trách thái độ không tin ấy.

- Sau khi làm cho các ông tin, Chúa Giêsu sai các ông “đi khắp thế gian rao giảng Tin Mừng cho muôn dân”(Mc 16,15).

2. Các môn đệ lúc đầu đã không tin mặc dù đã nghe các phụ nữ kể lại việc Chúa Giêsu hiện ra. Các ông cũng vẫn không chịu tin khi nghe thêm hai môn đệ thuật lại cuộc gặp gỡ của họ với Đấng Phục Sinh. Phải đợi tới lúc Chúa đến thì các ông ấy mới tin. Xét như vậy thì chúng ta thấy đức tin không do suy luận, cũng không do có bằng chứng người ta kể lại, nhưng đức tin là việc Chúa làm, do Chúa ban.

Sau khi khiển trách các môn đệ về thái độ cứng lòng tin của họ, Chúa Giêsu đã củng cố lại lòng tin đó, rồi Ngài mới sai các ông đi rao giảng. Rao giảng là chia sẻ niềm tin của mình cho người chưa tin hay còn yếu đức tin. Vì thế, phải tin rồi mới đi rao giảng. Các môn đệ đã có đức tin rồi, nên Chúa tin tưởng trao phó trách nhiệm loan báo Tin Mừng của Chúa để họ loan báo lại cho những người khác.

Có một câu chuyện ngụ ngôn rất hay về vấn đề này. Chuyện kể rằng, sau khi chịu nạn chịu chết trên thập giá, Chúa Giêsu đã Phục Sinh trở về Thiên Đàng trong uy nghi hiển vinh. Dầu đã được vinh quang nhưng tay chân Ngài vẫn còn mang thương tích. Các thiên sứ hân hoan đón chào Chúa. Quang cảnh đang nhộn nhịp vui tươi thì bỗng có một thiên sứ đặt vấn đề:

- Chắc là Chúa đã phải chịu thống khổ vô cùng vì loài người dưới đó?

Chúa Giêsu đáp:

- Đúng vậy!

Thiên sứ hỏi tiếp:

- Có phải tất cả mọi người đều đã biết những gì Chúa làm cho họ không?

Chúa Giêsu trả lời:

- Chưa, chỉ mới có một số ít người biết mà thôi.

Thiên sứ hỏi tiếp:

- Thế thì Chúa làm gì để giúp cho mọi người được biết?

Chúa Giêsu đáp:

- Ta đã trao Phêrô, Giacôbê, Gioan và các đồ đệ của ta trách nhiệm đi nói với những người khác, rồi những người khác lại nói cho những người khác nữa, rồi cho những người này lại nói cho những người kia, cho đến lúc những người ở nơi xa xôi nhất trên địa cầu cũng đều được nghe.

Thiên sứ nhìn Chúa với vẻ nghi ngờ. Vị này đã quá hiểu rõ lòng dạ con người như thế nào, nên nói tiếp:

- Vâng, nhưng nếu như Phêrô, Giacôbê, Gioan và các môn đệ của Chúa quên đi thì sao? Hoặc nếu họ mệt mỏi không còn tha thiết gì đến việc loan báo nữa thì sao? Hay như những người ở thế kỷ 20 này không chịu thực hiện trọng trách việc thuật lại câu chuyện tình yêu của Chúa cho những người khác nữa thì sao? Liệu Ngài có lập một chương trình nào khác không?

Chúa Giêsu trả lời:

- Không! Ta không sắp đặt một chương trình nào khác. Ta đặt tin tưởng nơi họ.

Chúa vẫn tin tưởng nơi những ai tin ở Chúa.

3. Chúng ta cũng phải làm chứng cho Chúa trước mặt mọi người. Việc này phải được coi là một bổn phận khi chúng ta được Chúa thương nhận chúng ta làm con của Chúa qua Bí Rửa Tội.

Nhà văn hào Tolstoi của Nga đã ghi lại trong một câu chuyện ngắn một cuộc thoại của ba người khách bộ hành như sau:

Mệt mỏi vì đường xa, ba người bộ hành đã dừng lại nghỉ chân bên một dòng suối. Bên cạnh dòng suối trong mát, mỗi người cảm thấy sảng khoái và hứng khởi nên họ nói lên cảm tưởng của mình về lợi ích của nó.

Người thứ nhất lên tiếng: “Còn gì sung sướng bằng gặp được một dòng suối mát bên vệ đường! Nước suối trong vắt không những làm cho chúng ta được tươi mát, mà còn mời gọi chúng ta sống thành thật với nhau”.

Người bộ hành thứ hai góp ý: “Dòng suối chảy như không ngừng muốn nói với tôi rằng: “Hỡi loài người, hãy làm việc! Hãy làm việc không ngừng để làm cho thế giới được tốt đẹp hơn”.

Sau một phút trầm ngâm, người bộ hành thứ ba mới thốt lên: “Những gì các bạn vừa phát biểu đều đúng cả. Nhưng còn có một điều quan trọng hơn nữa tôi muốn chia sẻ với các bạn. Các bạn hãy nhìn kìa, dòng suối này chảy không ngừng. Nó ban phát không ngừng, nó ban phát cho tất cả mọi người mà không đòi hỏi một sự đáp trả nào... mỗi người chúng ta hãy sống cao thượng như thế”.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã sống lại, xin phục sinh tâm hồn con để chúng con đem niềm vui Phục Sinh đến cho mọi người. (Epphata).

Lm Giuse Đinh Tất Quý

 

SUY NIỆM 4: CÁC CON HÃY ĐI KHẮP NƠI RAO GIẢNG TIN MỪNG

Thánh sử Máccô có nói đến những lần Chúa hiện ra với các tông đồ sau khi Chúa sống lại. Chúa hiện ra để Chúa an ủi, nâng đỡ, dạy dỗ, chỉ bảo, hướng dẫn các ngài, đôi khi Chúa cũng khiển trách về lòng tin của các ngài nữa, vì dường như lòng trí các ngài vẫn còn mê muội nhiều quá: “Khi Chúa Giêsu sống lại, sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, thì trước hết Người hiện ra với Maria Mađalêna, kẻ đã được Chúa đuổi bảy quỷ. Bà đi báo tin cho những kẻ đã từng ở với Người và nay đang buồn thảm khóc lóc. Họ nghe bà nói Chúa sống lại và bà đã thấy Người, nhưng họ không tin. Sau đó, Chúa lại hiện ra dưới hình thức khác với hai môn đệ đang trên đường về miền quê. Hai ông trở về báo tin cho anh em, nhưng họ cũng không tin các ông ấy. Sau hết, Chúa hiện ra với mười một tông đồ lúc đang ngồi ăn. Chúa khiển trách các ông đã cứng lòng, vì các ông không tin những kẻ đã thấy Người sống lại” (Mc 16, 9 – 14). Phải nói rằng Chúa rất kiên trì và rất nhẫn nại với các tông đồ của Chúa trong việc hướng dẫn đức tin, để các ngài không mất đức tin qua việc khủng hoảng quá lớn trên con đường theo Chúa. Theo Chúa mà bây giờ dường như mất hết mọi sự, bản thân thì phải trốn chui trốn nhủi những người biệt phái, luật sỹ, kỳ lão, trưởng tế, vì sợ họ sẽ bắt và giết chết bản thân như đã bắt và giết thầy của mình. Đây là đêm tối của cuộc đời các ngài trong hiện tại, còn tương lai thì mịt mù không thấy lối đi. Giả sử nếu có thấy thì chỉ thấy toàn là những chướng ngại vật giăng mắc, nằm ngổn ngang cản lối thì lại càng làm cho thêm rắc rối, thất vọng hơn nữa mà thôi. Thế nhưng, nhờ Chúa đã thương yêu và giúp đỡ các ngài cho đến cùng, Chúa không bỏ rơi các ngài giữa chừng, cho nên Chúa thường hiện ra, cho dù các ngài đang ở nơi đâu, cho dù các ngài đang ở trong bất cứ hoàn cảnh nào của cuộc sống. Những lần như thế, Chúa lấy Lời Chúa để dạy dỗ, củng cố đức tin cho các ngài và cuối cùng là dẫn các ngài đến với bàn tiệc bữa ăn Thánh Thể Chúa để rồi các ngài đã vượt qua các thử thách đó và vững tin vào Chúa.

Một khi các ngài vững tin vào Chúa, Chúa lại trao ban cho các ngài sứ mạng cao cả là làm chứng cho Chúa: “Rồi Người nói: Các con hãy đi khắp thế gian rao giảng Tin Mừng cho muôn loài” (Mc 16, 15). Như vậy, tuy các ngài yếu đuối, chẳng xứng đáng để Chúa trao ban cho sứ mạng cao quý mà Chúa đã lãnh nhận nơi Chúa Cha, nhưng vì Chúa yêu thương các ngài, tạo cho các ngài có cơ hội lập công phúc, có cơ hội cộng tác với Chúa, có cơ hội được hạnh phúc, vinh dự giữa muôn tạo vật trên trần gian này, để rồi chúng ta thấy Chúa  muốn các tông đồ cũng như chúng ta ngày hôm nay luôn ở với Chúa để Chúa cũng luôn chia sẻ trách nhiệm của Chúa cho chúng ta trong việc xây dựng Nước Chúa dù trong hiện tại hay trong tương lai, để chúng ta có ý thức trách nhiệm, cố gắng cộng tác với ơn Chúa ban mà sống tốt hơn, hoàn thiện bản thân theo ý Chúa muốn hơn. Như vậy, khi Chúa trao ban sứ mạng này, Chúa tin tưởng các tông đồ, Chúa biết các ngài sẽ làm được nếu cố gắng công tác với ơn Chúa ban, chứ sứ mạng này không vượt quá khả năng của các ngài, khiến cho các ngài không thực hiện được. Thực tế hai ngàn năm qua đã minh chứng điều đó, Giáo Hội chúng ta đang lan rộng khắp nơi trên thế giới này.

Lạy Chúa là Đấng sống lại từ cõi chết, chúng con cảm tạ Chúa vì Chúa đã thương chúng con trong lúc chúng con là tội lỗi, bất xứng, nhưng Chúa đã chịu chết, sống lại và trở thành Đấng Cứu Độ chúng con. Chúng con xin Chúa trở nên sức mạnh, dũng lực để chúng con ra đi loan truyền sự phục sinh của Chúa, và giúp mọi người tin vào Chúa và nỗ lực xây dựng thế giới này, cuộc sống này thành trời mới đất mới, nơi Thiên Chúa ngự trị trong mọi tâm hồn, và mọi người sống chan hòa yêu thương nhau như anh em một nhà, con một Cha trên trời. Amen.

 Lm Micae Võ Thành Nhân

 

SUY NIỆM 5:

Lời Chúa cho thấy đức tin Phục Sinh không phải chỉ là một đức tin mà ta nghe và tin. Nghe và tin không hề dễ dàng, vì đức tin không phải là kết quả của việc tìm kiếm và suy nghĩ của con người. Đức tin chân chính phải là đức tin được thúc đẩy bởi lời sai đi của Chúa: “ Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo”. Thánh Macco cho thấy thái độ cứng lòng tin của các tông đồ. Đức tin của chúng ta được thông truyền từ đức tin của các tông đồ, là đức tin kèm với nhiệm vụ ra đi và loan báo Tin Mừng. “ Các ông vẫn không tin” dường như là điệp khúc được lặp lại không chỉ ở thời các tông đồ, mà là trong mọi thời đại của lịch sử cứu độ. Như các môn đệ, Chúa vẫn luôn quan tâm đến từng người để củng cố và nâng đỡ. Ngày nay, Chúa muốn chúng ta củng cố đức tin của mình, vì đức tin là một ơn ban đến từ Thiên Chúa, chứ không phải dựa vào nỗ lực của mỗi cá nhân.

Lạy Chúa, chúng con xin lỗi Chúa, vì biết bao lần Chúa gửi đến những sứ điệp Tin Mừng thông qua bàn tiệc Lời Chúa và Thánh Thể, nhưng chúng con vẫn cứng lòng tin. Xin Chúa đổi mới và củng cố đức tin còn non yếu của chúng con. Amen.

Lm. Gioan B. Nguyễn Văn Phi