THÁNH GIUSE - BẠN TRĂM NĂM ĐỨC MARIA
Mt 1,16.18-21.24
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo Thánh Mat-thêu
16 Ông Gia-cóp sinh ông Giu-se, chồng của bà Ma-ri-a, bà là mẹ Đức Giê-su cũng gọi là Đấng Ki-tô.
18 Sau đây là gốc tích Đức Giê-su Ki-tô : bà Ma-ri-a, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giu-se. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần.
19 Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo.
20 Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: “Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần.
21 Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ.”
24a Khi tỉnh giấc, ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy.
SUY NIỆM 1: THÁNH GIUSE; NGƯỜI CÔNG CHÍNH
Người công chính, là người cần thiết để xây dựng công bằng và chân lý, tình yêu trên thế giới. Những đức tính của người công chính không những điểm tô nhân cách của mình còn là một bảo đảm cho hậu duệ và thành trì vững chắc bảo vệ an bình, đồng thời là nền móng cho thế giới không bị lay chuyển.
Thánh Giuse được giới thiệu là Đấng Công Chính, dựa trên những nét tiêu biểu. Công bằng, vị tha, tình yêu.
Công bằng:
Công bằng không chỉ là trả cho mỗi người những gì thuộc về người đó, theo cách hiểu của cụm từ “dare cuique suum” mà còn là thái độ trách nhiệm sống tình yêu với người khác.
Đối với Thánh Giuse, được Thánh Kinh giới thiệu là bác thợ mộc. Thời đó gọi là thợ mộc bao gồm cả những người sửa chữa vặt những đồ dùng trong gia đình bị hư gãy. Thánh Giuse chấp nhận là một người thợ sửa chữa vụn vặt ấy. Vấn đề không thuộc về tay nghề cao thấp, xứng với đồng lương lãnh. Vấn đề nghề nghiệp của Thánh Giuse lựa chọn là phục vụ những con người nghèo trong xã hội, chính họ chứ không ai khác phải sửa chữa những gì vặt vãnh, nếu giàu có họ đã thay thế cái hư thành cái tốt hơn. Xã hội của những người nghèo chỉ đủ trả cho những người thợ chấp nhận nghèo như họ để làm những công việc nhiều hơn đồng lương được lãnh. Sống nghèo với người nghèo là tái lập sự công bằng giữa những người nghèo đang chịu sự bóc lột bởi giới giàu có. Đó là lối sống lên tiếng mời gọi trả lại công bằng cho mọi người được sống, không phải để hưởng những gì mình có mà trả lại đúng nghĩa công bằng cho mọi phẩm giá của con người được tôn trọng. Không giống như những trào lưu của những cao bồi nghĩa hiệp được người ta ca tụng, chiếm lấy của người giàu để chia cho người nghèo. Sống công bằng theo Thánh Giuse là cách lựa chọn sống nghèo để thông chia với người nghèo trong những khả năng đã được nhận lãnh, thể hiện đời sống Tin Mừng một cách trung thành: “Anh em đã nhận một cách nhưng không hãy cho đi một cách nhưng không” (Mt 10, 8).
Thánh Giuse trong cách sống công bằng, chấp nhận cuộc sống đơn
nghèo của mình để sẻ chia. Có thể thấy trong đời sống tự nguyện nghèo khó, một
tâm hồn đã tôi luyện khỏi những ích kỷ, cái tôi, biện luận cho lối sống gây bất
công. Cội rễ của bất công nằm trong tâm khảm của mỗi người khi “muốn ở trên và
đối kháng với người khác” (Sứ Điệp Mùa Chay 2010, Benedicto XVI). Đón nhận tự
nguyện đời sống nghèo khó để cùng với người nghèo khó xây dựng đời sống bảo vệ
cho phẩm giá cao quý của con người, đó là chứng nhân cho công bằng giữa những
bất công.
Vị tha:
Ra khỏi cái tôi để hướng về người khác vì họ là “hình ảnh và họa ảnh của Thiên Chúa” (St 1, 27). Trước hết để tách mình ra khỏi cái tôi “ích kỷ”, là hướng về Thiên Chúa, chỉ khi quy hướng về Thiên Chúa mới có thể thắng được cái tôi của mình. Ra khỏi là biến cố xuất hành của từng cá nhân, nghe Lời của Thiên Chúa ra khỏi chính mình và để thực hiện đời mình theo ý Chúa.
Thánh Giuse cho thấy điểm quan trọng đó trong đời sống ra khỏi chính mình mà Thánh Kinh thuật lại: “Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: “Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ.” (Mt 1, 19 – 21). Quy chiếu cuộc đời của mình với ý muốn của Thiên Chúa, dẹp bỏ những dự định ước mơ của mình để ý muốn Thiên Chúa thực hiện. Ý muốn của Thiên Chúa bao giờ cũng là ý muốn hoàn hảo, không những cho cá nhân mà còn cho toàn thể nhân loại. Được xưng tụng là công chính, bởi vì Thánh Giuse đã thực hiện lời mời gọi “nên hoàn hảo như Cha trên trời là Đâng hoàn hảo” (Mt 5, 48), bằng cách thi hành ý muốn của Thiên Chúa.
Có ra khỏi chính mình quy hướng về Thiên Chúa mới có thể là tác
nhân xây dựng công bằng trên trái đất được. Cụ thể ý muốn của Thiên Chúa được
mạc khải trong Chúa Giêsu Kitô. Nghe Lời Chúa và đem ra thực hành là ra khỏi
chính mình, để có được đặt ở trên người khác thì cũng có cách thi hành: “trở
thành người phục vụ” (Mt 23, 11), loại trừ được tính đối kháng mà sống với nhau
như anh chị em con một Cha trên trời.
Thánh Giuse, trong đời sống phục vụ chẳng thấy một lời lẽ nào được
ghi lại. Phục vụ không phải là để tên tuổi mình được rạng danh mà để Danh Thiên
Chúa hiển trị. Đó là mẫu gương đích thực cho đời sống phục vụ trong khiêm tốn
và trong tình yêu.
Tình Yêu:
Đón nhận ý muốn của Thiên Chúa để thực hiện trong cuộc đời mình là thực hiện đời sống trong Tình Yêu.
Thánh Giuse, đón nhận ý muốn
Thiên Chúa nhờ mặc khải về con trẻ sẽ được đặt tên là Giêsu, nghĩa là Thiên
Chúa cứu độ dân Người. Đón nhận nên như khí cụ Thiên Chúa dùng thực thi công
trình cứu độ. Thánh Giuse cũng như những người Do Thái mộ mến Thiên Chúa khác
đã hiểu cụ thể rằng: Thiên Chúa yêu thương là Thiên Chúa giải thoát. Điều đó
Chúa đã thực hiện với dân của Người khi đưa họ ra khỏi tình trạng nô lệ tại Ai
Cập. Từ minh chứng cụ thể đó, dân Do Thái hiểu thêm, Thiên Chúa yêu thương cũng
là Thiên Chúa đã giải thoát nhân loại khỏi hư vô mà tạo dựng nên con người.
Giải thoát vượt xa tầm hiểu biết của con người “từ không đến có” và từ “tội lỗi
đến chỗ tinh tuyền”. Nhờ vào đời sống kinh nghiệm về lòng yêu thương của Thiên
Chúa, Thánh Giuse đã tự nguyện hiến dâng của lể chính cuộc đời của Ngài trở
thành công cụ cho Giải Thoát.
Thánh Giuse, người công chính cũng chính trong điểm son này. Sống
cuộc đời trở thành của lễ hiến dâng, cho Thiên Chúa và cho nhiều người. Cuộc
sống không còn sống cho chính mình nữa mà là sống trong Thiên Chúa. Tình yêu
không còn mang tính cá nhân nữa mà mang chiều kích Toàn Thể. Chỉ trong Đấng là
cội nguồn mọi sự, cá nhân mỗi người mới được thực hiện trong Chúa Giêsu “trở
nên tất cả cho mọi người, để cứu sống nhiều người” (1 Cor 9, 22).
Sống tình yêu là cách sống đưa nhiều người về với Thiên Chúa, để chính Thiên Chúa giải thoát họ, đó là cách sống công bình trong Tình Yêu. Trả lại lẽ đúng cho con người, mọi người đều được Thiên Chúa yêu thương.
Xin Thánh Giuse cầu bầu cho chúng con trong cuộc đời trần thế này, theo gương Ngài sống đáp lại Lời Chúa mời gọi: “Nên hoàn hảo”, thực thi đời sống trong kinh nghiệm giải thoát để ra khỏi chính mình và sống kết hiệp với Tình Yêu Chúa để nên mọi sự cho mọi người.
Lm. Giuse Hoàng Kim Toan
SUY NIỆM 2: THÁNH GIUSE – GƯƠNG SỐNG ĐỨC TIN
Tác giả Thánh vịnh 116 đã tuyên xưng niềm tin vào Thiên Chúa: “Tôi đã tin cả khi mình đã nói: Ôi nhục nhã ê chề, đã thốt lên trong cơn hoảng hốt: mọi người đều giả dối”. Có thể nói tác giả đã tuyên xưng niềm tin của mình trong một hoàn cảnh hết sức cay đắng, thậm chí bị nhục nhã vì mang danh là dân của Chúa, mà giờ dây dường như Chúa để cho dân của Ngài bị tủi hổ bời dân ngoại đàn áp, bị người đời khinh miệt, bị bạn bè bỏ rơi.
Thưa quý OBACE, tin vào Thiên Chúa khi thành công, khi vui mừng có vẻ dễ dàng, nhưng để tuyên xưng niềm tin vào Thiên Chúa khi gặp thất bại hay khó khăn thử thách, quả là không dễ, và để nói lên lòng trung thành vơi Thiên Chúa khi bị nhục nhã, khi khi bị Thiên Chúa dày vò, thì càng khó hơn nữa. Hôm nay, chúng ta đang chiêm ngắm một con người dường như chỉ biết tin và nhắm mắt bước đi trong niềm tin của mình, và không thiếu những lúc Ngài phải cắn răng chịu đựng vì những thử thách liên tục ập xuống trên cuộc đời của ông và gia đình ông, người đó chính là Thánh Giuse.
Những tửơng rằng, kết hôn với một người con gái đạo đức, và bản thân của Ngài sống một cuộc sống công minh chính trực trước mặt Thiên Chúa và mọi người, chu toàn giời răn và lề luật một cách vuông tròn, thì Thiên chúa cũng sẽ phải bù đắp lại cho Ngài một cuộc sống gia đình tốt đẹp! Thế nhưng lại hoàn toàn ngược lại, Thiên Chúa dường như cứ muốn thử thách đức tin của Giuse để thẩm định lòng tín trung của ông: Niềm vui trong cuộc kết hôn với Maria đã chưa được trọn vẹn, thì một tin sét đánh đến với Giuse, Maria bạn của Ngài đã có thai mà không biết từ đâu. Trước hoàn cảnh khó xử này, Giuse không thể hiểu hết được, nên ông đã chọn giải pháp rút lui để cho Thiên Chúa định liệu theo kế hoạch của Ngài, vì ông vẫn hoàn toàn tin tưởng mọi việc đều do Thiên Chúa và tin vào sự thánh thiện đạo đức của Maria, và không dám hồ nghi điều xấu cho người bạn của mình. Đức tin của Giuse đã thể hiện qua cách xử sự này, thay vì giải quyết theo phương án của con người, đó là tố cáo và công khai điều này trước mặt mọi người, và nếu như thế, thì Maria và gia đình sẽ vô cùng nhục nhã, và phải mang bản án ném đá, nhưng Giuse đã không làm như vậy, ông đã chọn giải pháp cầu nguyện để nhận ra thánh ý Thiên Chúa. Chắc chắn Giuse đã phải cầu nguyện rất nhiều, và vì muốn tìm kiếm thánh ý của Thiên Chúa, nên chỉ cần một điềm báo mộng, thì Giuse đã sẵn sàng đón nhận Maria về làm vợ mình, và hết lòng tôn trọng người vợ của mình không nghi nan, không thắc mắc nữa.
Việc chấp nhận Maria và thai nhi đã đòi Giuse phải có một cái nhìn hết sức siêu thoát, và việc tin hài nhi trong lòng Maria là Con Đấng Tối Cao, Đấng là Thiên Chúa mà ông lại được quyền đặt tên cho Ngài là Giêsu, tin như thế đã là một bước dài, vậy mà Thiên Chúa vẫn không cho ông và gia đình được hưởng một ưu tiên nào, trái lại ông vẫn phải đối diện với thử thách khác: phải đem vợ mình đang mang thai trở về quê qua một hành trình dài. Tại quê hương là Bethlehem, ông không được ai đón nhận, cả hai vợ chồng bị chơ vơ lạc lõng trong giá lạnh đêm khuya, rồi Maria đã đến lúc sinh con mà không tìm được nơi nương tựa, trong hoàn cảnh đó, một mình Giuse lại phải xoay sở để tìm được một chỗ trú chân qua đêm cho cả hai người và nhất là cho một hài nhi bé bỏng. Tin vào Thiên Chúa những lúc bị người đời hắt hủi, cô đơn buồn tủi như thế, không dễ dàng chút nào, nhất là giờ đây, Giuse lại phải tin hài nhi bè nhỏ yếu ớt kia là chính Thiên Chúa của mình, và là Con Đấng Tồi Cao…
Không chỉ là một con người có một đức tin sâu xa tín thác vào Thiên Chúa, Giuse còn là người đã thể hiện đức tin của mình qua việc trung thành chu toàn việc thờ phượng Thiên Chúa qua các lễ nghi lề luật truyền dạy. Chúng ta có thể thấy điều đó khi ông bà chu toàn việc dâng con trai đầu lòng cho Thiên Chúa như luật dạy. Giuse đem con trẻ Giêsu và người vợ lên Giêrusalem để vừa làm lễ thanh tẩy cho Maria, vừa để hiến dâng con cho Thiên Chúa. Của lễ của gia đình dâng cho Thiên Chúa chỉ là một của lễ đơn sơ chân thành theo hoàn cảnh nghèo của minh, họ dâng chúa một đôi chim bồ câu. Ngày nay chúng ta thường thấy nhiều người nhân danh sự nghèo khó vất vả của mình để bỏ qua việc thờ phượng Thiên Chúa, thế nhưng Giuse đã không như thế, ông đã tin với một đức tin chân thành đơn sơ phó thác cả gia đình, công việc cho sự quan phòng của Thiên Chúa, không tính toán so đo, trái lại cả hai vợ chống đến với Chúa với một tâm tình tạ ơn và yêu mến.
Cũng thế, mặc dù sau những sóng gió liên tục, gia đình của Giuse về định cư tại Nazaret, với một cuộc sống bình dị đạm bạc, Giuse cũng phải vất vả với công việc để nuôi sống vợ con, vậy mà, không khi nào Giuse lên tiếng than van hay trách móc, cũng không vì sự vất vả khó khăn của cuộc sống mà Giuse cho phép mình lơ là trong việc bổn phận thờ phượng Thiên Chúa. Chính vì thế, Thánh Kinh đã ghi lại rằng: hàng năm cha mẹ chúa Giêsu có thói quen trẩy hội đi lễ đền thờ Giêrusalem. Thói quen hàng năm ấy chỉ có được nơi những con người chuyên chăm siêng năng dám phó thác đời sống và công việc cho Chúa, đã dám gác lại những lo lắng riêng tư đế có thời gian đến với Chúa, và chính từ sự chuyên chăm này, Giuse đã hình thành nên nếp sống đạo và đời sống đức tin cho vợ và người con là Giêsu.
Lược qua một vài biến cố như thế trong cuộc đời của Thánh Giuse, để thấy rằng Thánh Giuse quả thật là con người có một đức tin sâu xa vào Thiên chúa, sống đức tin một cách cụ thể qua các biến cố của cuộc sống gia đình và còn là người thể hiện đức tin qua việc chu toàn lề luật và việc phụng thờ Thiên Chúa. Chính vì có một đời sống đức tin như thế nên Thánh Thánh Giuse trở thành tấm gương sống đức tin cho mỗi người chúng ta, và cuộc sống của Ngài còn được sánh như đức tin của tổ phụ Apbraham và của Thánh vương Đavít.
Apbraham ngày xưa cũng đã có một đức tin mạnh mẽ, ông đã tin và đã bước theo tiếng mời gọi của Thiên Chúa để lên đường, dù phía trước mặt ông tương lai thật mờ mịt, Thánh Kinh diễn tả rằng: ông ra đi mà không biết mình đi dâu. Apbraham đã tin và đã hoàn toàn trao phó cuộc đời, tương lai và hy vọng của ông cho lời hứa của Thiên Chúa, ông không chút hồ nghi, không tính toán, không oán trách Thiên Chúa, cho dù có nhiều lúc đau khổ tan nát cõi lòng. Cũng thế Thánh vương Đavít, cũng đã sống trọn vẹn đức tin vào thiên Chúa, cả những khi vô cùng nhục nhã, lên voi xuống chó, sống chui sống nhủi, bị những kẻ vô lại khạc nhổ chửi bới, vậy mà ông vẫn tin và không hề mở niệng than trách Thiên chúa và ông nhận ra rằng: tất cả là vì lỗi của tôi, nên Thiên chúa đã xử với tôi như thế.
Thưa quý OBACE, Thiên Chúa sẽ trả lại cho những kẻ tin trung bằng tình yêu thương trung tín của Ngài, vì tin, nên Apbraham được trở thành cha của những kẻ có lòng tin, ông được trở nên như bạn hữu của Thiên Chúa; Đavít, nhờ tin mà trở thành kẻ Chúa yêu thương và còn hứa sẽ lập cho ông một triều đại trường tồn mại mãi; và cũng thế, vì trung thành với đức tin mà Giuse được Thiên Chúa tín nhiệm trao phó con của Ngài cho ông chăm sóc, cho Giuse được cộng tác một cách hết sưc chặt chẽ với chương trình cứu độ của Thiên Chúa.
Chúng ta đang sống trong Năm Đức Tin, mỗi người được mời gọi làm mới lại đức tin của mình, củng cố và làm cho đức tin của mình nên vững chắc trước những sóng gió và sự tấn công của con người và của thế giới, của khoa học và của các trào lưu tư tương hiện nay, bằng việc siêng năng học hỏi suy gẫm Lời Chúa và Giáo lý của Hội Thánh. Các bậc làm cha mẹ hãy noi gương thánh Giuse: không chỉ củng cố đức tin của mình để có thể vượt qua những thử thách sóng gió của cuộc sống gia đình, mà còn phải trở nên thày dạy đức tin cho con cái trong gia đình, biết giải quyết các khó khăn trong cuộc sống gia đình trong cái nhìn đức tin và theo giáo huấn của giáo hội. Mỗi người hãy củng cố đức tin của mình bằng việc tham dự một cách thường xuyên các cử hành phụng vụ của giáo Hội, siêng năng lãnh nhận các bí tích nhất là bí tích Giải tội và Thánh Thể, vì các cử hành phụng vụ của Giáo Hội là cách thế bày tỏ đức tin của Giáo Hội và của mỗi cá nhân trong sự gắn bó với Giáo hội, và cũng là cách thế để nuôi dưỡng và củng cố đức tin của mỗi người chúng ta.
Qua lời bầu cử của Thánh Giuse, xin Chúa thêm đức tin cho mỗi người để chúng ta có thể nên giống như thánh nhân trở thành những con người thực hành đức tin trong xã hội hôm nay. Amen.
Lm. Giuse Đỗ Đức Trí
SUY NIỆM 3: THÁNH GIUSE, CON NGƯỜI HIỆP HÀNH
Chúng ta đang cùng nhau hướng tới một Giáo hội Hiệp Hành của Thượng Hội Đồng Thế Giới 2023. Mừng kính trọng thể lễ Thánh Giuse, Bạn Trăm Năm Đức Trinh Nữ Maria (19/3) hôm nay, chúng ta thử cùng nhau suy niệm về Thánh Giuse, con người hiệp hành. Tại sao Thánh Giuse được gọi là con người hiệp hành? Hiệp hành của Thánh nhân ở những đức tính nào? Thánh nhân có rất nhiều đức tính đáng để chúng ta suy niệm và noi gương bắt chước. Tuy nhiên, trong khuôn khổ bài chia sẻ này, chúng ta không thể liệt kê hết các đức tính của Thánh nhân, chúng ta chỉ nêu lên 3 đức tính sau đây để cùng nhau suy niệm: công chính, vâng lời và khiêm tốn.
Thiên Chúa là Đấng hiệp hành
Xuất phát từ tình yêu nhưng không, Thiên Chúa đã sáng tạo nên muôn loài muôn vật để vũ trụ này được tham dự vào tình yêu vi diệu của Thiên Chúa Ba Ngôi. Vì yêu nên Thiên Chúa tìm mọi cách để làm sao con người được cứu độ dẫu con người bất tuân, phản bội. Vì yêu nên Thiên Chúa muốn trở nên Đấng Hiệp Hành với con người ngang qua công trình cứu chuộc là cho Con Một của Ngài nhập thể nơi cung lòng Đức Trinh Nữ Maria. Nếu trong Cựu ước Thiên Chúa hằng đồng hành và giải thoát Dân Người khỏi những đại họa, như “400 năm nô lệ bên Ai Cập hoặc 70 năm lưu đày tại Babylon”, thì khi đến thời Tân ước, Con Thiên Chúa đã đến trần gian và hiệp hành với Dân Người. Chính Đức Giêsu đã “đi trên cùng một con đường với nhân loại, nói tiếng nói của con người, mang lấy những yếu đuối khổ đau như con người, thậm chí chết đau thương hơn cả con người.” (trích lời của Đức Tổng Giám Mục Giuse Nguyễn Năng). Muốn hiệp hành với con người, Thiên Chúa không thể chỉ phán bằng lời nhưng bằng cách làm người giống con người mọi đàng ngoại trừ tội lỗi. Thiên Chúa làm người thật bằng việc chọn cung lòng của một con người cụ thể và bằng người thật để được sinh ra. Nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần, Đức Maria đã được chọn gọi giữa muôn ngàn phụ nữ để làm Mẹ Thiên Chúa, làm mẹ của Chúa Giê-su, Ngôi Hai Thiên Chúa. Cũng để xác nhận quyền làm con trong gia đình khi Đức Giê-su, Con Thiên Chúa làm người, không chỉ chọn Maria làm Mẹ mà Thiên Chúa cũng phải chọn gọi Thánh Giuse làm cha nuôi con của Người. Trước khi là cha nuôi Con Đức Chúa Trời, Giuse đã đỉnh hôn với Đức Maria. Giuse là người công chính và đã chấp nhận ý định cao vời khôn ví của Thiên Chúa để kế hoạch cứu độ loài người được thực hiện.
Thánh Giuse, con người hiệp hành
Theo Tin mừng kể lại rằng Giuse là người công chính. Người công chính là người dám can đảm bỏ ý định của riêng mình để ý Thiên Chúa được thực hiện. Thiên Chúa muốn hiệp hành với con người nhờ sự can thiệp của Thánh Giuse. Ý định của Thiên Chúa khác với ý muốn của con người. Giuse đang sống yên ổn và có nhiều dự định cho tương lai và bạn đời của mình là Đức Maria. Thế nhưng, mọi sự không như mong muốn, Giuse đã được truyền tin là phải đón Maria về làm vợ và phải đặt tên con trẻ là Giêsu trong khi cái thai đó không là kết quả của mình mà là do bởi quyền năng Chúa Thánh Thần. (x.Mt 1, 18-19). Đau khổ và thử thách. Chọn lựa hoặc huỷ bỏ? Nhưng vì là người công chính, là người hiệp hành, Giuse đã sẵn sàng gặp gỡ và lắng nghe rồi phân định để đi đúng chương trình của Thiên Chúa ngang qua lệnh truyền sứ thần. Quả thật, Thánh Giuse đã điều chỉnh ý muốn mình theo ý muốn của Thiên Chúa, đường lối của mình theo đường lối của Thiên Chúa. Thánh nhân đã quy hướng toàn bộ con người và cuộc đời theo thánh ý Thiên Chúa. Ngài đã khước từ ý riêng để sống hiệp hành với Thiên Chúa và hiệp hành với Đức Maria và Chúa Giê-su.
Từ khi đáp lời xin vâng theo lệnh của Thiên Chúa là đón Bà Maria về nhà, Thánh Giuse đã gặp không biết bao nhiêu sóng gió. Sóng gió đầu tiên là cùng Đức Maria tìm kiếm nhà trọ để sinh con nhưng không ai đón nhận, cuối cùng phải mượn chuồng bò để Hài Nhi được chào đời. (x. Lc 2, 7). Sóng gió thứ nhì là phải đem Hài Nhi và Mẹ Maria chạy trốn sang Ai cập vì sự bắt bớ của Vua Hê-rô-đê.(x.Mt 2, 13-14). Sóng gió thứ ba là đón Hài Nhi và Mẹ Maria trở lại Nazzaret theo lệnh của sứ thần. (x.Mt 2,21). Một cuộc chạy đi chạy lại của Gia đình Thánh Gia thật vất vả và gian nan nhưng không vô vọng và kêu ca của người Gia trưởng. Vì sao Thánh Giuse lại làm được những chuyện như vậy? Xin thưa vì Giuse là người công chính, là người khiêm tốn và vâng lời Thiên Chúa một cách triệt đế; một sự phó thác hoàn toàn vào chương trình và kế hoạch của Thiên Chúa hơn là ý riêng của con người. Giuse đã không cậy vào sức lực yếu đuối của con người, nhưng sẵn sàng đón nhận thánh ý Chúa với sức mạnh của Chúa. Vì thế, chúng ta nhận thấy mọi việc Thánh Giuse, với vai trò là người chồng và là người cha nuôi, đều luôn tốt đẹp và thánh thiện theo thánh ý Thiên Chúa.
Thánh Giuse hiệp hành với Giáo Hội
Mặt khác, Giuse không chỉ là người hiệp hành với Thiên Chúa, với gia đình Thánh Gia mà còn là người hiệp hành của Giáo Hội nói chung, của Giáo Hội Việt Nam và mọi người nói riêng. Ngài đã hiệp thông với Chúa cách trọn vẹn ngang qua cuộc đời của ngài với Mẹ Maria và Hài Nhi Giê-su. Ngài đã sẵn sàng hy sinh tất cả và thầm lặng để phục vụ Mẹ Maria và Hài Nhi Giê-su. Giuse là Đấng Bảo trợ và gìn giữ Đức Nữ Đồng Trinh cũng như Đấng Cứu Thế. Giáo Hội Hiền Thê của Đức Giê-su cũng sẽ được bảo trợ bởi Thánh Giuse mỗi ngày. Ngày xưa nhờ Thánh Giuse bảo trợ mà Gia đình Thánh Gia luôn được an toàn và thoát khỏi mọi hiểm nguy của kẻ thù. Ngày nay, Thánh Giuse cũng sẵn sàng nâng đỡ và chở che Giáo Hội Chúa thoát khỏi mọi cơn sóng gió của thời cuộc nếu chúng ta biết chạy đến với Thánh nhân. Chúng ta tin rằng Thánh Giuse luôn hiệp hành với chúng ta trong mọi cơn gian nan thử thách.
Hơn nữa, hiện tại Giáo hội Việt Nam đang phải đối diện với nhiều ‘luồng gió lạ’ đang mọc lên rầm rộ nhằm lôi kéo nhiều cá nhân và tập thể, những người yếu kém đức tin chạy theo nó. Cụ thể như: ‘sứ điệp từ trời’; ‘giáo phái Đức Chúa Trời Mẹ’; ‘Nhóm Trừ Quỷ Bảo Lộc’; ‘Linh mục giả, nữ tu giả’; và một số lối sống buông thả khác đang dần dần lây lan nhiều nơi nhiều vùng miền trong toàn thể Giáo Hội Việt Nam chúng ta. Đây có thể là những ‘ung nhọt đang mưng mủ’ làm đau thương và tê tái Giáo hội của Chúa. Đau lòng hơn nữa, có nhiều linh mục, tu sĩ nam nữ và một số tín hữu đã bị cám dỗ và bị lôi kéo để lập ra những nhóm, những hội riêng hầu chống báng, lên án, hiềm khích Giáo Hội bất chấp mọi kỷ luật của Đấng bản quyền trong Giáo Hội. Đứng trước những sóng gió lạ và nguy hiểm này, con thuyền Giáo hội không thể không bị ảnh hưởng và chồng chềnh. Tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa và sự bảo trợ đắc lực của Thánh Giuse, Bổn Mạng của Giáo Hội Việt Nam, chúng ta cố gắng sống hiệp thông với Chúa cách trung thành và kiên vững cũng như nỗ lực hiệp thông với nhau và mau chạy đến với Thánh Giuse để đủ sức mạnh chiến thắng mọi cơn cám dỗ của ma quỷ, thế gian và xác thịt.
Phaolô Phạm Trọng Phương
Nguồn: dcvphanxicoxavie.com
SUY NIỆM 4: BÀI GIẢNG LỄ THÁNH GIUSE
Kính thưa cộng đoàn phụng vụ!!!
Hàng năm, Giáo hội dành riêng tháng ba để kính nhớ thánh cả Giuse và mừng kính ngài cách đặc biệt vào ngày 19/3 hằng năm. Khi suy niệm về các nhân đức của thánh cả Giuse, chúng ta học được nhiều điều nơi ngài, mặc dù trong cả bốn Tin mừng, chẳng thấy chỗ nào có tiếng nói của Ngài, một câu nói cũng không thấy. Thánh nhân không nói, nhưng lại nói rất nhiều. Trong thinh lặng, trong khiêm nhường, Ngài đã để lại cho chúng ta cả một kho nhân đức. Và, kho nhân đức ấy không những chẳng bao giờ lỗi thời, mà còn trở nên bài học quý giá cho chúng ta, cách riêng cho các gia trưởng: là những người đang là chồng, là cha, là ông.
Hôm nay, tôi không đề cập hết các nhân đức của thánh Giuse, mà chỉ xin chia sẻ chút tâm tình về chân dung của ngài: chân dung về một thánh Giuse thinh lặng, một sự thinh lặng nội tâm, đầy tín thác trước huyền nhiệm lớn lao của Thiên Chúa; được thể hiện rõ nét qua đoạn tin mừng cộng đoàn chúng ta vừa nghe.
Vào dịp giáng sinh, trên những tấm thiệp, chúng ta thường thấy vẽ cảnh thánh Giuse đưa Đức Mẹ và Hài Nhi Giêsu trên lưng lừa đi trốn kẽ thù. Bầu trời đen thẫm, có vài tia chớp loé lên ở cuối chân trời, vừa đủ sáng để soi đường. Hơn nữa, đọc tin mừng những chỗ có đề cập đến thánh Giuse, chúng ta cũng nhận ra một điều là: những điều xẩy ra trong cuộc đời của ngài đều diễn ra vào ban đêm: Sứ thần 3 lần hiện ra với ngài vào ban đêm; Đưa Mẹ con hài nhi lẩn trốn Hêrôđê cũng vào ban đêm; đưa Đức Maria tìm chỗ sinh con, cũng vào ban đêm. Có thể nói suốt cuộc đời thánh Giuse là đêm tối. Nhưng đây là đêm tối của những người được Chúa tuyển chọn và yêu thương. Mà ta gọi là đêm tối đức tin.
Cuộc sống trong gia đình quê Nadarét, đối với thánh Giuse là cả một huyền nhiệm. Huyền nhiệm bởi chính Ngài cũng không hiểu mình là ai trong huyền nhiệm lớn lao đó, thế mà ngài vẫn dấn bước, vẫn chấp nhận, chấp nhận vai trò làm ‘cha’ để cho huyền nhiệm đó được tiếp diễn trong thế gian này. Có nhiều người ví ngài như là người đồng hành với chiếc kiệu, mà không biết người trong kiệu là ai, thường dân hay thánh nhân. Không biết nhưng vẫn đồng hành hết cuộc đời. Điều này chúng ta thấy rõ nơi thánh cả Giuse: suốt cuộc đời âm thầm, thinh lặng, đồng hành, che chở cho Đức Maria và CGS. Âm thầm, thinh lặng đến độ mà khi Chúa Giêsu cuộc đời công khai, thì Thánh Giuse hầu như hoàn toàn không còn được nhắc đến, thậm chí, ngài chết bao giờ, chết như thế nào, chết ở đâu thì cũng chẳng ai biết, và cũng chẳng được đề cập đến trong TM.
Trong khi Đức Maria đối diện với huyền nhiệm của Thiên Chúa, Mẹ đã ‘hằng ghi nhớ mọi điều ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng’ (Lc 2,19), thì bên cạnh đó, Thánh Giuse, một người bạn đời trung tín, bước đi trong sự thinh lặng, âm thầm. Ngài thinh lặng trong cái thinh lặng của TC. Và chính TC dường như cũng không buồn ngỏ lời với ngài, ngoại trừ vài lần trong lúc mơ ngủ. Tất cả diễn ra trong mơ hồ, khó hiểu và đêm tối. Đến nỗi có lần thánh nhân gần như bị quật ngã bởi không tìm thấy lối đi cho mình. Phải đối diện với những nghi ngờ, và cuối cùng đã phải ‘định tâm lìa bỏ Đức Maria cách kín đáo’.
Cộng đoàn kính mến!!!
Thánh Giuse chỉ đóng vai phụ trong màn kịch lớn, chỉ là cái bóng trong đêm tối. Thế nhưng, Thiên Chúa cần đến vai phụ đó, cần đến cái bóng đó cho chương trình cứu độ của Ngài. “Này Giuse, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần.”
Nơi thánh Giuse, tôi muốn giới thiệu cho cộng đoàn, cách riêng cho quý ông gia trưởng bài học về sự thinh lặng, một sự thinh lặng nội tâm, phó thác và sẵn sàng nhận ra “sự hướng dẫn âm thầm của Thiên Chúa”.
Sở dĩ chúng ta học nơi thánh Giuse sự thinh lặng vì lẽ sự ồn ào ngày nay đã lan nhiễm khắp nơi. Sự ồn ào không chỉ ở bên ngoài xã hội, mà đã len lỏi vào trong đời sống gia đình, khiến tâm hồn con người ta không ngừng khắc khoải và bất an. Chính những lúc đối diện với một thế giới quá ồn ào đó, thì hình ảnh của thánh Giuse lại rất cần thiết cho mỗi người chúng ta, ngài như chiếc neo kìm giữ con thuyền gia đình chúng ta, không bị mất hướng, không bị cuốn trôi và tan theo những con sóng vô hình và vô tình. Hơn nữa, để chống lại sự lây nhiễm của một thế giới quá ồn ào, đức thánh Giáo hoàng Gioan Phaolo II đã chỉ cho chúng ta ‘liều thuốc bổ’ mang tên Giuse, khi Ngài nói: ‘Chúng ta hãy để mình bị tiêm nhiễm bởi sự thinh lặng của thánh Giuse. Chúng ta rất cần sự thinh lặng ấy, vì trong thế giới nhiều lúc quá ồn ào, khiến chúng ta khó suy gẫm và lắng nghe tiếng Chúa… chúng ta cần nuôi dưỡng sự suy gẫm nội tâm, để có thế tiếp nhận và canh giữ CGS trong cuộc sống chúng ta’.
Thánh Giu-se đã chiến đấu với bản thân mình, với bóng đêm để làm loé lên trong đời mình ánh sáng hi vọng. Làm được như thế là vì Ngài mang trong mình ngọn lửa của tình mến, ngọn lửa tín thác và cậy trông. Đêm đen cuộc đời tuy dài, nhưng xa xăm vẫn còn ánh sáng soi đường. Dẫu rằng lắm khi rất mờ mờ ảo ảo, thánh nhân vẫn yêu mến, vẫn gắn bó và vẫn tiến bước với Chúa và trong Chúa.
Trong đêm tối của sự thinh lặng, thánh Giuse đốt lên trong tâm hồn mình ngọn đèn thao thức và tín thác, khiến sự thinh lặng đêm tối, biến thành niềm hi vọng sáng ngời. Niềm hi vọng ấy như dây đàn, rất bén nhạy, mỏng mảnh để sẵn sàng rung lên tiếng ngân trước lời mời gọi như gió thoảng của Thiên Chúa. “Này Giuse, đừng ngại đón Maria về; Này Giuse hãy trỗi dậy, đưa Mẹ con Hài Nhi trốn sang Ai cập, Ngày Giuse, hãy đưa Mẹ con hài nhi trở về…..Niềm hy vọng và sự tín thác đó tạo nên sức mạnh giúp thánh Giuse lèo lái gia đình Nadarét vượt qua những khó khăn, nguy hiểm.
Quý gia trưởng kính mến!!! Nhìn vào thánh Giuse, chúng ta tin tưởng vào lời Chúa, học tinh thần phó thác cho Chúa, để Chúa dẫn ta qua đêm tối. Để rồi cuối đoạn đường chúng ta có thể hát vang lên rằng: Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u, con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm.
Lm. Phêrô Mai Quốc Anh sss
SUY NIỆM 5: GIUSE KHIẾT TỊNH
Con số 7 tượng trưng cho sự hoàn hảo. Kinh Lạy Cha có 7 lời cầu xin; phép lạ hóa bánh ra nhiều còn dư 7 thúng, Chúa Thánh Thần ban bảy ơn. Trong Tin Mừng Mátthêu, tên Giuse xuất hiện 7 lần, cho thấy vai trò của ngài rất quan trọng; nhưng lối sống âm thầm của ngài lại cho chúng ta sự chú ý.
Thánh Giuse làm chủ trong lời
ăn tiếng nói. Ta không hề thấy một lời nào của ngài. Trong Tin Mừng, ngài
rất thinh lặng. Vì vậy, nếu ngài im lặng, thì đây không phải là tình trạng lặng
thinh, cũng không phải là hờn dỗi, cũng không phải vì ngài ít nói. Ngài thinh
lặng để lắng nghe.
Trước tiên vì ngài là mẫu mực cho sự vâng phục của đức tin.
Ngài biết rằng vâng phục để lắng nghe cho tỏ tường. Từ đó, sự thinh lặng, việc giữ gìn ý tứ và những lời ăn tiếng nói hiếm thấy nơi ngài: ngài phải thế để lắng nghe, đó là mở tai lòng mình ra. Khi Thiên Chúa gọi, ngài trả lời ngay, nhưng theo cách của ngài. Khi ngài nghe Thiên Chúa nói: Giuse, đừng sợ đón nhận… Chúa Thánh Thần, Phúc Âm không hề nói gì đến lời của ngài nhưng nói đến thái độ: Giuse làm như Thiên Thần Chúa dạy.
Suốt cả đời sống của ngài diễn ra như thế: chỉ cần Thiên Chúa bảo “đứng dậy” và ngài đứng dậy, không một lời nói. Giuse là người không chậm trễ, thẳng thừng, không nhiều lời, làm theo ý Chúa. Ôi! mong sao thế giới được tốt đẹp nếu tất cả mọi người (hay ít ra là các Kitô hữu) đáp lại ý Chúa như Giuse đã làm…
Thánh Giuse Làm Chủ Thân Xác
…. đặc biệt là về tính dục.
Vì ngài đã tin vào Thiên Chúa, ngài đón Maria về nhà. Ngài đón nhận cô vì cô là người nữ trinh khiết và đang có thai.
Vì ngài đã nghe Thiên Chúa, ngài hiến dâng ơn gọi của mình với tư cách là một con người hoàn toàn là hợp pháp.
Ngài chấp nhận tránh nhiệm và gáng nặng của một gia đình, nhưng từ chối tình yêu hôn nhân tự nhiên. Tình yêu này làm sinh sôi và làm cho gia đình lớn lên.
Giuse là bậc thầy về đức khiết tịnh, một đức tính cao đẹp mở ra một tình yêu chân thật, dù sống đời hôn nhân hay độc thân, sống tu trì hay gia đình.
Hậu quả đầu tiên của tội nguyên tổ là đánh mất sự tự chủ thiêng liêng, không làm chủ được thân xác chúng ta nữa. Tinh thần thì mạnh mẽ, nhưng thân xác thì yếu đuối…..
Vì vậy, khi thân xác chỉ sống cho mình, thân thể bị trao nộp cho chính nó, nó sẽ bằng lòng đi theo những qui luật của thú vật.
Khi lắng nghe Thiên Chúa, thánh Giuse đã tìm thấy con đường duy nhất cho sự sống trong sự khiết tịnh và khiêm tốn. Trong xưởng mộc Nadarét, khi làm việc trong thinh lặng, ngài đã hợp nhất con người của ngài cách sâu xa. Đời sống của ngài sẽ mặn mà hơn muối, hơn vẻ đẹp và niềm vui mà ngài muốn đạt được theo ý của mình.
Tên bạo chúa kiêu căng nói: “Ta làm chủ bản thân cũng như làm chủ vũ trụ”. Còn Thánh Giuse thì nói: “Tôi làm chủ bản thân bởi vì Thiên Chúa là vị thầy duy nhất của tôi”.
Lm. Vinh Sơn Đinh Minh Thoả
