LỄ VỌNG PHỤC SINH NĂM A

Mt 28,1-10

 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Mát-thêu

1Qua chiều ngày Sabat, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa tảng sáng, Maria Mađalêna và bà Maria khác đến thăm mồ. 2Bỗng chốc đất chuyển mạnh vì Thiên Thần Chúa từ trời xuống và đến lăn tảng đá ra, rồi ngồi lên trên đó. 3Mặt Người sáng như chớp và áo Người trắng như tuyết. 4Vì thế những lính canh khiếp đảm run sợ và hầu như chết. 5Nhưng Thiên Thần lên tiếng và bảo các người nữ rằng: “Các bà đừng sợ. Ta biết các bà tìm Chúa Giêsu, Người đã chịu đóng đinh. 6Người không có ở đây vì Người đã sống lại như lời Người đã nói. 7Các bà hãy đến mà coi nơi đã đặt Người và đi ngay bảo các môn đệ Người rằng: Người đã sống lại, và kìa Người đến xứ Galilêa trước các ông: Ở đó các ông sẽ gặp Người. Ðây Ta đã báo trước cho các bà hay”.

8Hai bà vội ra khỏi mồ, vừa sợ lại vừa hớn hở vui mừng, chạy báo tin cho các môn đệ Người.

 

SUY NIỆM 1:

Đêm nay Chúa Phục Sinh, chúng ta ca hát Halleluia! Và Hội Thánh mời gọi chúng ta hãy vui lên, bởi vì Chúa đã sống lại. Nhưng phải nói rằng, chúng ta rất khó cảm nhận được niềm vui của mùa Phục Sinh, của Đêm Vọng Phục Sinh này. Khi anh chị em mừng lễ Giáng Sinh, chúng ta cảm nhận niềm vui ấy dễ dàng. Vì ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm về sự sinh ra. Cha mẹ sinh ra con cái và người con được chào đời. Đó là niềm vui cho gia đình, cho xã hội, cho tất cả loài người. Trong Đêm Giáng Sinh, chúng ta cảm thấy mình vui một cách rất tự nhiên. Với Đêm Vọng Phục Sinh hôm nay thì chúng ta lại không có cảm nhận ấy. Phải nói rằng, cái cảm nhận về Đêm Vọng Phục Sinh này, cái cảm nhận đầu tiên không phải là cảm nhận vui mừng mà là cảm nhận của một nỗi sợ hãi.

Bài Tin Mừng theo 3 thánh sử Mátthêu, Máccô và Luca đều thuật lại câu chuyện về những người phụ nữ vào buổi sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, mang theo bình dầu thơm ra xức dầu cho Chúa, bởi vì chiều hôm trước Chúa chết vào giờ áp lễ Vượt qua, không kịp xức dầu thơm để ướp xác Chúa. Cho nên sáng ngày thứ nhất trong tuần, các bà mới vội vã ra đi, và khi các bà ra tới mộ thì các bà đã cảm nhận được điều gì đó rất lạ lùng, khiến các bà “sợ hãi, run lẩy bẩy, hết hồn hết vía”, thánh Máccô mô tả như vậy. Thế nên những người phụ nữ này “chạy trốn” mà không dám nói với ai điều gì, chỉ vì các bà sợ hãi.

Cho nên, kinh nghiệm và cảm nhận về Đêm Vọng Phục Sinh không phải là niềm vui, mà là sự sợ hãi. Tại sao lại sợ hãi? Sợ hãi là bởi vì, ở đây, con người đang đứng trước sự can thiệp lạ lùng của Thiên Chúa. Người ta sợ vì nhiều lý do. Nỗi sợ tự nhiên, đó là con người đứng trước thiên nhiên, sóng cao biển cả, bão táp thì con người thấy mình nhỏ bé quá, con người bất lực nên con người sợ. Con người sợ vì mặc cảm tội lỗi, vì những việc làm xấu, sợ tiếng lương tâm oán trách, sợ Thiên Chúa phạt. Nhưng vẫn còn nỗi sợ khác, nỗi sợ của sự thánh thiện. Nỗi sợ khi mà mình đối diện với quyền năng của THIÊN CHÚA. Nỗi sợ khi mà đối diện với sự can thiệp của THIÊN CHÚA vào trong lịch sử của nhân loại. Điều ấy đã xảy ra trong Đêm Vọng Phục Sinh này.

Trong Đêm Phục Sinh, những người phụ nữ sợ sự can thiệp của THIÊN CHÚA vào trong nhân loại. Chúa Giêsu đã chết, Ngài đã đi vào qui luật bình thường của con người, đó là có sinh thì có tử. Nhưng bỗng dưng hôm nay, một diễn tiến tự nhiên của dòng đời đã bị cắt đứt, vì hôm nay, chính Thiên Chúa can thiệp và đã làm cho Chúa Giêsu trỗi dậy từ trong cõi chết. Các bà đứng trước mầu nhiệm cao cả này, những người phụ nữ đã sợ. Chính cái cảm nhận sợ hãi này, là bằng chứng, cho dù không đủ, nhưng là bằng chứng rất mạnh cho thấy sự can thiệp của THIÊN CHÚA để Chúa Giêsu sống lại.

Chúng ta đang sống trong một thế giới, mà người ta gọi là thế giới của nền văn minh sự chết. Người ta sống trong hận thù, trong chiến tranh, trong bạo lực, có thể chém giết nhau bất cứ lúc nào. Chúng ta đang sống trong xã hội mà người ta chỉ biết hưởng thụ, hay đi tìm khoái lạc. Xã hội này, thế giới này, nhân loại này cứ theo qui luật bình thường như vậy thì chắc chắn sẽ đi tới tận diệt. Cuối cùng sẽ là cái chết. Đôi khi chúng ta cảm thấy thất vọng, cũng như dân Do Thái ngày xưa, khi đứng trước là biển cả, sau lưng là quân đội Ai Cập, họ cảm thấy cái chết gần kề, cảm thấy cùng đường, cảm thấy bế tắc, cảm thấy thất vọng. Nhưng chính trong sự thất vọng ấy thì Thiên Chúa đã can thiệp, đã mở đường cho dân Do Thái đi qua biển Đỏ khô chân. Đó là hình ảnh báo trước cho sự can thiệp còn vĩ đại hơn nữa. Thiên Chúa đã mở đường cho chúng ta đi, Chúa Giêsu đã chết nhưng đã sống lại, cũng như ngày xưa, Thiên Chúa đã dẫn đường cho dân Do Thái đi thì hôm nay Chúa Giêsu cũng dẫn đường cho chúng ta đi. Và nếu chúng ta đi theo Chúa Giêsu, chúng ta cũng sẽ tìm thấy niềm hy vọng, giữa một thế giới đầy chết chóc và tăm tối này.

Trong Đêm Phục Sinh, chúng ta nhìn ngắm cây nến Phục Sinh. Đó là biểu tưởng hết sức ý nghĩa. Mở đầu phần nghi thức, nhà thờ chìm vào bóng tối. Bóng tối tượng trưng cho thế lực sự dữ thống trị nhân loại bao lâu Chúa Giêsu chưa phục sinh. Quả thực, thế giới tăm tối này, nếu không có ánh sáng của Chúa thì vẫn chìm ngập trong bóng đêm, vẫn là tăm tối, vẫn là tội lỗi, vẫn là chết chóc.  Nhưng ánh sáng của Chúa đã thắp lên để chiếu soi thế giới, chiếu soi cuộc đời của mỗi người chúng ta. Các tân tòng trong đêm nay và cả chúng ta ngồi đây, theo qui luật tự nhiên, chúng ta sẽ phải chết. Nhưng trong đức tin, nhờ bí tích Rửa Tội, chúng ta đã có sự sống lại của Chúa Giêsu rồi, và Đức Kitô Phục Sinh đang ở trong chúng ta. Thần Khí của Thiên Chúa là chính Chúa Thánh Thần đang ở trong chúng ta.

Tóm lại, Phục sinh là cuộc tạo dựng mới, hiến lễ mới và xuất hành mới. Hiểu như thế, đêm nay là đêm trọng đại nhất trong mọi đêm. HT cử hành đêm Vọng PS này để hâm nóng niềm tin của ta vào Chúa Kitô PS, đồng thời nhắc nhớ ta nhiệm vụ chuyển giao niềm tin ấy cho các thế hệ mai sau, đặc biệt trong bầu khí gia đình. Chúa đã sống lại, chúng ta hãy hát mừng, mà chỉ có người nào thực sự cảm nhận niềm vui ấy, chúng ta mới có thể hát lên Halleluia! Cho nên từ cảm nhận nỗi sợ hãi, chúng ta tiến tới niềm vui và cảm nhận niềm vui mừng, bởi vì Chúa đã sống lại!

Lm. Phaolô Phạm Công Phương

 

SUY NIỆM 2: NGÔI MỘ TRỐNG 

Hằng năm chúng ta cử hành long trọng Lễ Vượt Qua của Giao Uớc mới, chúng ta nghe Lời Chúa thuật lại những kỳ công mà Thiên Chúa đã thực hiện với quyền năng và tình thương của Người trong lịch sử cứu độ. Giữa muôn vàn kỳ công đó, Phục Sinh được xem là biến cố trọng tâm của lịch sử cứu độ. Đây chính là biến cố vĩ đại tạo nên ý nghĩa cho các biến cố khác. Sấm ngôn tiên tri, lề luật Môi-sen, Thánh Vịnh, đến cả giáo huấn của Chúa Giê-su đều chỉ có thể hiểu được nhờ ánh sáng của Phục Sinh. Tất cả đều qui về sự hoàn thành ấy. Nhận thức về ý nghĩa quan trọng của biến cố này, thánh Phao-lô nói: “Nếu Đức Ki-tô không phục sinh, thì niềm tin và lời rao giảng của chúng ta ra vô ích” (1 Cr 15,14). Trong đêm Vọng Phục Sinh, câu chuyện “Ngôi Mộ Trống” do thánh sử Mát-thêu thuật lại, sẽ giúp chúng ta xác tín hơn về sự Phục Sinh của Đức Giê-su.

Giống như các tác giả Tin Mừng khác, thánh sử Mát-thêu bắt đầu câu chuyện với việc bà Ma-ri-a Mác-đa-la và những người phụ nữ khác đi viếng mộ, nơi táng xác Chúa Giê-su, vào buổi sáng ngày thứ nhất trong tuần. Nhưng sau đó trình thuật của Mát-thêu được khai triển trong cùng một khung cảnh lạ lùng như trong trình thuật mô tả trước đó về những hậu quả đi kèm sau cái chết của Chúa Giê-su: Đất rung chuyển. Mồ mả bật tung… (x. Mt 27,51-54). Khi đất rung chuyển, “thiên thần Chúa từ trời xuống, đến lăn tảng đá ra, rồi ngồi lên trên” (Mt 28,2). Tảng đá lớn bị niêm phong bởi sự ác và cái chết đã được lăn sang bên. Cùng với ngôi mộ của Chúa Giê-su bị mở ra, tất cả các ngôi mộ khác đều mở ra, những người chết được giải thoát (x. Mt 27,52).

Thiên thần Chúa ngồi trên tảng đá của ngôi mộ (x. Mt 28,2). Hình ảnh này biểu hiện về chiến thắng của Thiên Chúa trên quyền lực của thế gian này. Đức Giê-su Phục Sinh đã chiến thắng sự dữ và cái chết. Từ nay, “cái chết chẳng còn có quyền chi đối với Người” (Rm 6,9). Thánh sử Mát-thêu còn cho biết thêm, diện mạo của thiên thần “như ánh chớp, và y phục trắng như tuyết” (Mt 28,3). Những chi tiết này là dấu chỉ khẳng định có sự can thiệp của chính Thiên Chúa. Mát-thêu muốn nêu bật việc nhận biết Chúa Giê-su Phục Sinh không thể là đối tượng của kinh nghiệm con người, mà đó là kết quả của một cuộc mạc khải của Thiên Chúa.

Thật vậy, chính thiên thần Chúa đã mạc khải cho những người phụ nữ đi viếng mộ biết sứ điệp Phục Sinh của Đức Giê-su khi nói: “Tôi biết các bà tìm Đức Giê-su, Đấng bị đóng đinh. Người không có ở đây, vì Người đã sống lại” (Mt 28,5-6). Và rồi thiên thần mời họ “đến mà xem” (Mt 28,6) để xác nhận: ngôi mộ trống không, tuy xác Chúa Giê-su đã được đặt nơi đó. Điều này cho thấy, phần đầu của sứ điệp đã được chứng thực: “Ngài không còn ở đây nữa”. Còn phần sau: “Ngài đã sống lại”, dẫn đưa họ đến một sự khám phá bất ngờ. Câu nói “Người đã sống lại” đó là một sứ điệp mà Thiên Chúa mạc khải cho con người. Duy chỉ có thiên thần Chúa, với quyền năng của người loan tin từ trời, mới có thể nói rằng: “Chúa Giê-su đã phục sinh”; tương tự như khi Truyền Tin, sứ thần Chúa đã nói với Mẹ Ma-ri-a: “Bà sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai… và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao” (Lc 1,31). Riêng con người chỉ ghi nhận sự kiện Phục Sinh này bằng giác quan: Ngôi mộ trống. Trước khung cảnh ngôi mộ trống và sự xuất hiện của thiên thần Chúa, con người có thái độ phản ứng ra sao? Thánh sử Mát-thêu trình bày cho ta thấy có hai phản ứng khác nhau:

(1) Những người lính canh khiếp sợ, run rẩy và chết ngất (x. Mt 28,4). Họ không thể đối diện với sức mạnh và quyền năng của Thiên Chúa. Họ bị sốc trước ngôi mộ trống và trước những lời nói của thiên thần Chúa về Đấng đã chết nay đã sống lại. Họ đã vội vã chạy đi báo tin cho những người ra lệnh canh giữ biết về sự thật này. Tuy nhiên, họ đã bị ‘mua chuộc’ bởi tiền bạc và đã ‘bán đứng’ sự thật khi phao tin rằng: “ban đêm đang lúc chúng tôi ngủ, các môn đệ đã đến lấy trộm xác” (Mt 28,13).

(2) Riêng phản ứng của những phụ nữ lại khác: Sau những hoảng sợ ban đầu, họ đã tìm thấy được niềm vui và bình an nội tâm. Họ không còn sợ hãi bởi vì họ được thiên thần Chúa mời gọi một cách rõ ràng rằng: “Này các bà, các bà đừng sợ” (Mt 28,5) và đừng tìm Chúa Giê-su trong mộ. Các bà hãy đi loan báo tin vui Phục Sinh này cho các môn đệ (x. Mt 28,7-8). Tưởng chừng như ngôi mộ là nơi kết thúc con đường hy vọng của họ, nhưng thiên thần Chúa đã mở ra cho các bà một con đường khác: họ chạy về báo tin Chúa đã sống lại và cuộc chạy của Tin Mừng nầy sẽ không bao giờ chấm dứt.

Đức Ki-tô đã từ cõi chết sống lại. Người mang lại nguồn hy vọng và sự sống mới cho chúng ta. Như lời xác quyết của thánh Phao-lô: “Ai sẽ giải thoát tôi khỏi cái thân xác phải chết này? Tạ ơn Thiên Chúa, nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta” (Rm 7,24-25). Nhờ sự sống lại của Đức Ki-tô Phục Sinh, chúng ta thêm can đảm và vượt qua những sợ hãi của bóng tối sự chết và đêm đen của sự dữ trên trái đất này. Bởi sứ điệp Phục Sinh nói cho chúng ta biết rằng: sức mạnh tình yêu của Đức Ki-tô đã chiến thắng mọi sự dữ (x. Rm 6,8-9). Trong đêm hồng phúc này, chúng ta nguyện xin tình yêu và bình an của Đức Ki-tô Phục Sinh ngự trị trong tâm hồn chúng ta, giúp ta chiến thắng những sợ hãi và bước đi trong niềm vui với Đấng đã chết và sống lại vì yêu thương chúng ta (x. Ga 15,13). Amen.

Lm. Giuse Trần Minh Hùng, SVD

 

SUY NIỆM 3: “MỪNG VUI LÊN!”

Ước mơ sống lâu, sống mãi hay sống lại, là ước mơ của toàn nhân loại. Alexande đại đế đã làm mọi cách để được sống lâu, Tần Thủy Hoàng lệnh cho các danh y chế linh đơn cho mình được trường thọ. Nhưng họ đều đã chết. Chúa Kitô của chúng ta, với bản tính nhân loại, Người đã chết, chết tất tưởi trên thánh giá, lúc mới có 33 tuổi đời. Nhưng với bản tính Thiên Chúa, Người đã phục sinh. Đó là một sự thật lịch sử, một mầu nhiệm khôn dò, đã diễn ra cách đây hơn 2000 năm.

Mầu nhiệm cao trọng này, không một tôn giáo nào trên thế giới có, mà chỉ có ở Kitô Giáo. Các tôn giáo lớn như: Lão Giáo, Nho Giáo, Phật Giáo được các bậc thánh thiện như: Đức Lão Tử, Đức Khổng Tử, Đức phật Thích Ca Mâuni sáng lập ra, nhưng các vị đều đã chết mà không thể tự mình sống lại và không thể làm cho người khác sống lại. Còn Đức Giêsu Kitô – Thiên Chúa nhập thể, đã chết vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh và tự mình sống lại vào ngày Chúa nhật. Đó là mầu nhiệm vĩ đại chúng ta đang mừng kính.

Phụng vụ đêm cực thánh này, khởi đầu với nghi thức thắp nến và rước nến phục sinh. Trước đó tất cả đèn điện trong nhà thờ cúp hết, bóng tối bao trùm tất cả. Bóng tối tượng trưng cho sự chết, cho quyền lực tối tăm đang thống trị con người. Trái lại, nến Phục sinh cháy sáng tượng trưng cho Chúa Kitô phục sinh, Chúa Kitô phục sinh đi tới đâu, thì bóng tối bị đẩy lui và ngôi thánh đường lại tràn ngập ánh sáng. Điều ấy, có ý nghĩa rằng: Chúa Kitô đã đến giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi và sự chết đời đời. Chúng ta được phục hồi phẩm giá làm con Thiên Chúa rực rỡ vinh quang. Chính vì thế, bài thánh ca tin mừng phục sinh: Exultet kêu mời dân Chúa, mừng vui lên!

Với lòng hoan hỷ, chúng ta nghe các bài đọc Kinh Thánh nhắc nhớ ta về tình thương và quyền năng của Thiên Chúa trong lịch sử cứu độ dân Người. Quyền năng và tình thương của Thiên Chúa nay thành toàn viên mãn nơi Đức Giêsu Kitô phục sinh.

Như thế, ta có thể ghi nhớ và sống Lời Chúa gợi lên trong đêm cực thánh này qua các cặp hình ảnh: tội lỗi – cứu độ; bóng tối – ánh sáng; sợ hãi – vui mừng. Loài người chúng ta đã phạm tội, phải sống trong bóng tối, sợ hãi và chết chóc, thì nay Chúa Kitô đến cứu độ, đưa ta vào miền ánh sáng, cho ta hưởng phúc lạc thiên đàng.

Ước chi mầu nhiệm Phục sinh mà chúng ta đang cử hành thấm vào lòng trí, biến thành hành động chết đi những đam mê tội lỗi, để sống cuộc đời lành thánh.

Ước chi ánh sáng Chúa Kitô Phục Sinh sẽ sáng mãi trong chúng ta, để “Trong nơi hận thù, con gieo tình thương. Trong nơi gian dối con gieo chân tình. Trong nơi chinh chiến, con gieo an bình. Trong nơi buồn sầu, con gieo niềm vui. Trong nơi tranh chấp, con gieo giao hòa. Trong nơi tăm tối, con gieo huy hoàng”.

Ước chi niềm vui Phục sinh tăng cường Đức tin, phá tan sợ hãi, khơi dậy nhiệt tâm “loan truyền Chúa chịu chết, tuyên xưng Chúa sống lại, cho tới khi Chúa đến”. Amen

Lasan Ngô Văn Vỹ, O.Cist

 

SUY NIỆM 4: NIỀM TIN VÀ HY VỌNG 

Thực tại cuộc sống mà con người mỗi ngày phải đối diện, đó là cái chết. Rõ ràng chẳng ai mong đón nhận cái chết cả vì thường tình người ta vẫn cho rằng chết là hết. Con người hoàn toàn vô vọng trước cái chết. Đứng trước cái chết con người như buông xuôi tất cả.

Những người Do Thái thời Chúa Giêsu, những người thân tín với Chúa Giêsu và đặc biệt là các môn đệ của Chúa Giêsu – những người cùng ăn, cùng uống, cùng đi rao giảng với Chúa Giêsu – đã chứng kiến, đã phải đối diện với cái chết của Chúa Giêsu. Lẽ dĩ nhiên là họ cũng vô vọng trước cái chết của Thầy mình. Thế nhưng, sự thật lại khác với những gì người ta suy nghĩ, hay tiên đoán. Chúa Giêsu đã phục sinh.

Chúa đã phục sinh. Đó là nền tảng của niềm tin và niềm hy vọng của mỗi người Kitô hữu chúng ta. Thánh Phaolô đã nói rất chí lý rằng: “Nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em. Hơn nữa, cả những người đã an nghỉ trong Đức Kitô cũng bị tiêu vong. Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Kitô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người” (1 Cr 15,17-19). Vì thế, ngài khẳng định rằng: “Nhưng không phải thế! Đức Kitô đã trỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu” (1 Cr 15,20).

Hôm nay, Giáo Hội cử hành mầu nhiệm Phục Sinh nhằm hiện tại hóa biến cố Chúa sống lại cho mỗi người chúng ta. Chúng ta đã trải qua 40 ngày của Mùa Chay là thời gian chuẩn bị cho sự Phục Sinh bằng ăn năn sám hối, hãm mình đền tội, thực thi bác ái. Giờ đây chúng ta mừng lễ Phục Sinh. Chúng ta vui mừng vì Chúa Kitô sống lại từ cõi chết, chúng ta cũng hân hoan vì đã hứa cho chúng ta được sống lại với Người.

Tin Mừng Mátthêu hôm nay cho chúng ta biết: Chúa đã sống lại thật, bằng chứng là ngôi mộ trống, bằng chứng là có Thiên Thần báo tin, bằng chứng là Chúa đã hiện ra với bà Maria Mácđala và một bà khác cũng tên là Maria, khi họ đi viếng mộ (Mt 28,1).

Trước ngôi mộ trống, xác Chúa không còn nữa; trước sự lạ lùng của mầu nhiệm Phục Sinh, các bà cũng hoảng sợ và có ý nghĩ muốn trốn đi. Nhưng khi thức tỉnh, với niềm tin xác tín, các bà đã đi báo tin vui cho các môn đệ. Tâm thức của các bà giờ đây chỉ còn là một Đức Giêsu “Đấng đã phục sinh”. Người chịu đóng đinh, chết và chôn trong mồ, nhưng nay đã sống lại. Người hiện ra, gặp gỡ, tiếp xúc trước hết với mấy phụ nữ, rồi các Tông Đồ, các môn đệ, và tất cả chúng ta ngày hôm nay.

Qua bài Tin Mừng hôm nay, Giáo Hội một lần nữa muốn mỗi người chúng ta ý thức và xác tín vào việc Chúa Phục Sinh để cùng nhau tin tưởng, vui mừng và hy vọng vào sự phục sinh của mỗi người chúng ta trong ngày sau hết.

Chúng ta tin vì lời Chúa đã báo trước, và hôm nay điều đó đã trở thành hiện thực. Hôm nay một ánh sáng mới, một sinh khí mới, một mầm sống mới đã đến với mỗi người chúng ta, như dòng nước trường sinh tươi mát làm dịu bớt những nỗi đau, những hụt hẫng của cuộc đời. Chúng ta vui mừng vì sức mạnh của ánh sáng vinh quang Phục Sinh đã chiếu sáng cho những người đau khổ nghèo hèn, những người bị tù đày, những người đang sống trong bóng tối thất vọng; tất cả từ nay được sống trong vui tươi hạnh phúc. Chúng ta hy vọng vì cuộc đời mỗi người từ nay có Chúa Phục Sinh cùng đồng hành và Thần Khí Chúa giúp ta sống trong bình an, hạnh phúc.

Nhìn vào cuộc đời của mỗi người chúng ta: ngày qua ngày vẫn còn đó những nỗi buồn, vẫn còn đó những khổ ải, vẫn còn đó những thất vọng. Nhiều khi chúng ta nếm cảm những thất bại đau đớn, chúng ta muốn buông xuôi, y như ngôi mộ đã được một tảng đá niêm phong lại, chẳng còn gì để hy vọng, ngoài một niềm nuối tiếc khôn nguôi. Nhưng “tảng đá đã lăn ra khỏi mộ”! Chính Thiên Chúa đã lăn tảng đá ra khỏi mộ Đức Giêsu, thì Ngài cũng lăn được những tảng đá đang chắn cuộc đời chúng ta lại, miễn là chúng ta đừng nhất định bám cứng vào những tảng đá đó. Như một bài giảng được gán cho thánh Gioan Kim Khẩu (334-407), có đoạn viết: “Xin đừng có một ai buồn sầu về sự nghèo khó của mình, bởi vì Vương Quốc đã hiện ra cho tất cả mọi người; xin đừng có một ai than thở về các lỗi lầm của mình, bởi vì ơn tha thứ đã trào vọt ra từ ngôi mộ; xin đừng có một ai sợ hãi cái chết, bởi vì cái chết của Đấng Cứu thế đã giải thoát chúng ta. Người đã tiêu diệt cái chết, Đấng mà cái chết đã bóp nghẹt, Người đã tước đoạt hỏa ngục, Đấng đã xuống âm phủ…”

Vậy, niềm tin vào Chúa Phục Sinh sẽ giúp gì cho chúng ta?

Niềm tin phục sinh giúp chúng ta vượt qua được thử thách, đau khổ, nếu chúng ta biết nhìn lên Thánh Giá mà nhớ lại rằng chính Đức Giêsu Kitô cũng đã trải qua đau khổ, thất bại, đòn vọt, chịu đội mão gai và chết nhục nhã trên Thánh Giá mới bước vào vinh quang Phục Sinh. Những lúc đó, ánh sáng Phục Sinh sẽ len lỏi vào cõi lòng của chúng ta. Niềm hy vọng Phục sinh sẽ vụt lên trong tâm hồn của chúng ta, giúp chúng ta vượt qua được những thử thách, đau khổ trong cuộc sống.

Niềm tin phục sinh giải thoát chúng ta khỏi tội: như Thánh Phaolô mời gọi chúng ta: “Anh em hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa” (Cl 3,1). Tìm kiếm những gì thuộc thượng giới là gì nếu không phải là tâm trí luôn hướng về niềm hạnh phúc Thiên Đàng. Khi chúng ta nghĩ tới hạnh phúc Thiên Đàng, nghĩ tới sự sống lại, chắc chắn chúng ta sẽ chống trả được những cơn cám dỗ, tránh xa được những thói hư tật xấu, đam mê tội lỗi. Nếu có sa ngã phạm tội thì nhờ hướng tới hạnh phúc Thiên Đàng mà chúng ta quyết tâm thống hối ăn năn những tội lỗi của mình để làm hoà cùngThiên Chúa.

Niềm tin phục sinh giúp chúng ta biết sống tha thứ, yêu thương mọi người hơn: Khi chúng ta bị bỏ vạ cáo gian, bị đánh đập, bị ghét bỏ, bị lên án, bị đối xử tệ bạc bất công, chúng ta không phàn nàn kêu trách, không trả thù, trái lại yêu thương, cầu nguyện, lấy ơn đền oán là chúng ta đang hướng tới sự Phục Sinh của Chúa.

Như vậy, niềm tin và niềm hy vào sự Phục Sinh rất quan trọng và cần thiết đối với mỗi người chúng ta. Tin vào sự Phục Sinh sẽ giúp chúng ta vượt qua được mọi đau khổ, chống trả được các chước cám dỗ, giải thoát khỏi tội lỗi vàdễ dàng chấp nhận những thiệt thòi mà người khác gây nên cho mình. Tin vào sự Phục Sinh giúp chúng ta cố gắng sống tốt hơn, tha thứ và yêu thương mọi người hơn.

Xin Chúa Phục Sinh luôn đồng hành, hiện diện trong cuộc đời mỗi người để chớ gì cuộc đời mỗi người chúng ta được liên kết nên một, gắn vào thân thể phục sinh nhiệm mầu của Chúa, để những nỗi buồn trở thành niềm vui, những khổ ải, thất vọng trở thành niềm hy vọng. Và với niềm tin, sự xác tín vào Chúa Phục Sinh,từ nay mỗi người chúng ta sẽ trở nên những con người mới, như lời khuyên của thánh Phaolô Tông Đồ (x. Ep 4,22-24).

Ước gì niềm vui, niềm hy vọng và niềm tin vào Chúa Phục Sinh của mỗi người chúng ta được thể hiện bằng hành động qua từng ngày sống. Xin cho mỗi người chúng taluôn xác tín rằng mỗi lần chúng ta trở về sau những lầm lỗi, là chúng ta đang phục sinh với Chúa. Mỗi lần chúng ta tin tưởng sau những lần phản bội niềm tin, là chúng ta đang sống lại với Người. Mỗi lần chúng ta tiếp tục cố gắng sau những lần thất bại đắng cay, là chúng ta đang ra khỏi mồ trống. Xin Chúa giúp chúng ta biết mở rộng tâm hồn để đón nhận ân sủng Phục Sinh của Chúa.

Lm. Giuse Lâm Văn Việt, SVD

 

 SUY NIỆM 5:

Tại khắp các nhà thờ trên thế giới hôm nay đều tổ chức Đêm Canh Thức. Xưa kia, trong ngày an táng Chúa Giêsu, cũng có hai cuộc canh thức. Lính gác cửa mộ canh thức vì sợ các môn đệ đến lấy trộm xác Chúa. Còn các môn đệ, nhất là các phụ nữ đạo đức cũng canh thức chờ trời sáng đến viếng mộ và xức thuốc thơm xác Chúa.

Nhưng cả hai cuộc canh thức đều thất bại vì đặt sai mục đích: họ nhắm vào xác chết của Chúa Giêsu. Lính canh thì muốn giữ Chúa mãi mãi trong ngôi mộ để cho thân xác tan rữa và dập tắt mọi niềm hi vọng. Và như vậy hiện tượng Giêsu sẽ đi vào quên lãng trong tâm trí của người đời. Còn các môn đệ muốn được nhìn lại xác Thầy yêu dấu cho thỏa nỗi nhớ mong, và để xức dầu cho trọn nghi thức và lòng kính mến mà chiều thứ sáu, khi liệm xác họ chưa kịp làm.

Nhưng cả hai cuộc canh gác xác chết đã đưa đến thất bại, và thất bại đã đưa đến hai thái độ khác nhau: Đối với lính canh là một thất bại kinh hoàng. Họ canh giữ nhưng không đủ sức canh giữ. Phiến đá to lớn nặng nề và được niêm phong cẩn thận bỗng nhiên lăn ra khỏi cửa mộ. Ánh sáng bừng lên. Chúa Giêsu phục sinh đã ra khỏi mồ. Quá kinh hoàng lính canh bỏ chạy.

Trái lại đối với các môn đệ, cuộc canh thức của họ cũng thất bại nhưng là một thất bại vui mừng. Không thấy xác Chúa trong mộ, nhưng tâm hồn các ngài tràn đầy niềm vui. Vì các ngài tìm Chúa như một xác chết, nhưng Chúa lại đang sống. Như lời các thiên thần loan báo: “Sao các bà lại tìm Người Sống ở nơi kẻ chết?” Các ngài đi tìm Chúa như đi tìm hạt lúa bị chôn vùi, không ngờ hạt lúa mục nát đã mọc lên thành cây, sinh muôn ngàn bông hạt. Các ngài vào mộ như đi vào miền tăm tối, nhưng Chúa Phục Sinh đã làm cho ngôi mộ sáng lên huy hoàng. Các ngài đi đến mộ như đi đến tuyệt vọng, không ngờ Chúa Phục Sinh đã làm dậy lên niềm hi vọng lớn lao trong tâm hồn họ.

Ngôi mộ đã chôn con người cũ của Chúa Giêsu, nhưng Chúa Giêsu đã ra khỏi mộ trong thân xác vinh quang, trong một đời sống mới. Các môn đệ đến mộ với con người cũ. Và khi ra khỏi mộ, các ngài đã trở thành những con người mới. Cùng với Chúa Giêsu, tâm hồn các ngài đã phục sinh.

Chúng ta cũng đang canh thức trong đêm cực thánh này. Đừng như các lính canh muốn giữ chặt con người cũ, con người tội lỗi, con người xấu xa đưa đến diệt vong. Chúng ta hãy noi gương các môn đệ, canh thức để được gặp Chúa. Hãy cùng vào ngôi mộ với Chúa Giêsu. Trong ngôi mộ, chúng ta hãy cùng chết với Chúa và cùng Chúa chôn con người cũ của ta với những tính mê nết xấu, với những tham vọng, với những dục vọng thấp hèn. Để khi trở ra chúng ta trở thành những con người mới cho một cuộc sống mới: cuộc sống vui tươi hơn, lạc quan hơn, cuộc sống chứa chan niềm hi vọng, cuộc sống can đảm phấn đấu, sống bác ái, sống quên mình để yêu thương và phục vụ, cuộc sống hướng về những lý tưởng cao thượng, cuộc sống của những con người sẽ được phục sinh.

Qua sự phục sinh vinh hiển, Chúa Giê-su đã mở ra một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên của sự sống vĩnh hằng. Ngài đã thắng sự chết. Thần Chết phải buông khí giới quy hàng. Loài người không còn phải bị tiêu diệt bởi lưỡi hái tử thần nhưng đã được cứu sống bởi quyền lực của Chúa Giê-su phục sinh. Sự sống đã được khai thông. Cái chết đã bị đẩy lùi. Ngôi mộ không còn là điểm tận cùng của kiếp người nữa, nhưng là khởi điểm cho một đời sống mới. Sự phục sinh của Chúa Giê-su đã xoá đi đêm dài tăm tối của kiếp sống đau thương để làm bừng lên bình minh của cuộc đời vĩnh cửu.

Cùng với Đấng Phục Sinh, Thánh Thần của Ngài không ngừng được ban xuống, chúng ta có trách nhiệm canh tân bộ mặt trái đất. Để như ánh lửa được đốt lên và chuyền thắp đến mọi ngọn nến trong đêm vọng Phục sinh này, những người tin vào Chúa Kitô cũng sẽ là ánh sáng do tình yêu Thiên Chúa đốt cháy và thắp lên nơi tâm hồn mọi người tín hữu và tỏa ra, lan tràn trên khắp thế giới này.

Như vậy, chúng ta hãy vui lên, vì Chúa đã sống lại thật, Alleluia!

Lm. Phaolô Vũ Đức Vượng