LỄ GIÁNG SINH - LỄ RẠNG ĐÔNG
Lc 2,15-20
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
15 Khi các thiên sứ rời những người chăn chiên để về trời, những người này bảo nhau: “Nào ta sang Bê-lem, để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ cho ta biết.”
16 Họ liền hối hả ra đi và gặp bà Ma-ri-a, ông Giu-se, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ.
17 Thấy thế, họ kể lại điều họ đã được nghe nói về Hài Nhi này.
18 Tất cả những ai nghe đều ngạc nhiên về những gì các người chăn chiên nói cho biết.
19 Còn bà Ma-ri-a thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng.
20 Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được tai nghe mắt thấy theo như họ đã được loan báo.
SUY NIỆM 1:
Sứ điệp: Ngôi Lời Thiên Chúa đã xuống thế làm người tại một chuồng bò lạnh lẽo hôi tanh. Nơi gia đình thánh Giuse và Mẹ Maria, Chúa Giêsu đã sinh sống. Với người nghèo khổ đơn sơ, Ngôi Lời đã tỏ mình ra.
Cầu nguyện:Ôi lạy Chúa Giêsu Hài Đồng, vinh dự thay cho các mục đồng đến chiêm ngắm thờ lạy Chúa nơi hang Be-lem như lời các thiên thần đã báo. Hồng phúc thay! Biết bao người đã ngóng trông Đấng Cứu Tinh mà không được. Biết bao người đã sống cạnh Đấng Cứu Thế mà không nhận ra Ngài. Có những người chức quyền như Phi-la-tô, Hê-rô-đê, đã không được diễm phúc như các mục đồng. Có những người tài giỏi như các tiến sĩ cũng chẳng nhận ra Đấng Cứu Thế. Lại cũng có những người mang trách nhiệm trong đạo như các Biệt phái, Thượng tế, đã không nhận ra Chúa. Thật các mục đồng hạnh phúc quá.
Còn con, con không ngớt cảm tạ Chúa. Con được diễm phúc Chúa tỏ mình cho con. Con đã được làm con Thiên Chúa, gia đình con cũng được Chúa ngự trị. Linh hồn thân xác con mỗi ngày đều được Chúa sinh hạ. Chúa không chê gia đình con. Chúa không chê thân xác linh hồn con. Mỗi lần con mời Chúa ngự trị, con đều được Chúa viếng thăm.
Lạy Chúa Giêsu Hài Đồng, Mẹ Maria đã chiêm ngắm và hằng ghi nhớ những kỷ niệm này. Xin Chúa giúp cho con hằng ghi nhớ hồng ân Chúa dành cho con. Mỗi ngày xin Chúa giúp con thích thú đến với Chúa cách mau mắn và ngây ngất như các mục đồng. Xin cho con mỗi ngày mỗi sống thân tình với Chúa hơn. Amen.
Ghi nhớ: “Các mục tử đã gặp thấy Maria, Giuse và Hài Nhi”.
TGM Giuse Nguyễn Năng
SUY NIỆM 2:
Thánh lễ Nửa Đêm cho ta chiêm ngưỡng khung cảnh Thiên Chúa đến với con người trong lịch sử nhân loại và ý nghĩa cứu độ của biến cố ấy. Còn bài Tin mừng của Thánh lễ Rạng Đông mang tính cách suy niệm, trình bày những người đầu tiên được chứng kiến Thiên Chúa làm người và phản ứng của họ trước tình yêu cứu độ của Thiên Chúa. Mẹ Maria, thánh Giuse và các người chăn chiên đại diện cho lớp người nghèo khó của nhân loại đã có những tâm tình nào khi đứng trước Tình Yêu nhập thể của Thiên Chúa ? Những việc làm của họ không những phản ảnh những tâm tình cá nhân, mà còn trở nên những mẫu gương giúp ta biết phải làm sao đáp lại tình yêu cứu độ của Thiên Chúa.
1) Hành trình đức tin tới Bêlem
Từ cánh đồng chăn chiên tới Bêlem khoảng cách không bao xa, chỉ vài ba cây số. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là hành trình ấy dễ dàng. Làm sao dám bỏ cả đàn chiên lại một mình ? Hơn nữa giữa đêm đông lạnh lẽo và tối tăm, đi lại thật ngại ngùng. Những người chăn chiên ở Do Thái ngày xưa không được liệt vào số những người tốt. Họ thường bị khinh dể vì nghề nghiệp, bị nghi oan là hay cái thói trộm cắp. Do đó, đối với họ “sang Bêlem để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ cho biết” không phải là việc đơn giản. Điều sứ thần báo cho họ là một điều khó tin được. Đấng Cứu Độ là Đấng Kitô, là Đức Chúa mà lại là một trẻ sơ sinh bọc tã và nằm trong máng cỏ! Nhưng đó là dấu hiệu sứ thần đã nói cho họ biết. Dấu hiệu là cái giúp ta nhận ra một thực tại khác, thí dụ vương miện là dấu hiệu của hoàng đế. Nhưng ở đây, một trẻ sơ sinh nghèo nàn nằm trong máng cỏ bò lừa thì làm sao có thể là dấu hiệu của Đấng Cứu Độ, Đấng Kitô, Đức Chúa được!
Đức tin luôn đòi hỏi một thái độ liều lĩnh trong sự khiêm tốn chấp nhận thế giá của người khác. Điều các thiên sứ loan báo không thể tin được. Nhưng họ có đủ sự khiêm tốn để nhìn nhận quyền năng và tình thương của Chúa, nên họ xác tín điều sứ thần loan báo là điều chính “Chúa đã tỏ cho họ biết.” Như thế, từ lúc các thiên sứ nói với họ cho tới lúc rời họ, họ đã có một “bước nhảy vọt của đức tin,” liều lĩnh đi tới quyết định: “Nào ta sang Bêlem, để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ cho ta biết.”
Tiếp theo quyết định là thái độ vội vã của họ. “Họ liền hối hả ra đi.” Chắc ta còn nhớ thái độ ấy của Mẹ Maria sau khi sứ thần truyền tin cho Mẹ đã được thánh sử Luca ghi lại: “Bà Maria lên đường, vội vã đi đến miền núi” (Lc 1,39). Động lực của vội vã hối hả đều do lòng tin, hay nói khác đi, lòng tin đã khiến cho Mẹ Maria và các người chăn chiên nhận thấy không thể trì hoãn, nhưng cần phải mau chóng đáp trả.
Cuối cùng họ đã đến Bêlem và gặp được những gì sứ thần đã báo tin. Thánh Luca không ghi lại chút nào về cuộc gặp gỡ ấy. Có lẽ ngài muốn tôn trọng những riêng tư của mỗi nhân vật đang chăm chú hướng nhìn vào “Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ.” 2) “Đến nơi, họ gặp bà Maria, ông Giuse, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ”Tột đỉnh hành trình đức tin của những người chăn chiên là ở đây. Ta thắc mắc không biết Bà Maria và ông Giuse đang chăm sóc cho Hài Nhi hay đang đắm mình trong suy tư và chiêm ngưỡng Hài Nhi ? Chắc là các ngài đang chiêm ngưỡng Hài Nhi, vì Hài Nhi đã được đặt nằm trong máng cỏ rồi. Tuy nhiên điều ấy không quan trọng. Ta nên hiểu dụng ý của thánh Luca khi ngài lập lại hai lần “hài nhi đặt nằm trong máng cỏ” (Lc 2,12 và 16). Hình ảnh trẻ sơ sinh nằm trong máng cỏ chiên bò không phải là một hình ảnh lý tưởng. Nhưng thánh sử muốn ghi lại một biểu tượng vô cùng ý nghĩa. Máng cỏ là chỗ chứa đựng nguồn sống và lẽ sống của chiên bò thế nào, thì cũng là nơi đặt nằm Chúa Giêsu Hài Đồng, nguồn sống mới của nhân loại như vậy. Hiểu được ý nghĩa biểu tượng ấy, ta sẽ không còn ngạc nhiên khi nghe Chúa Giêsu qua bài diễn từ của Người về bánh trường sinh trong hội đường Caphácnaum: “Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy” (Ga 6,57).
Trong những giờ phút chiêm niệm này, cùng với Mẹ Maria và thánh Giuse, các người chăn chiên đang nhớ lại từng lời của sứ thần: “Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một Tin mừng Trọng Đại, cũng là Tin mừng cho toàn dân: Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít, Người là Đấng Kitô Đức Chúa. Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ.” Bao nhiêu câu hỏi có thể đặt ra, nhưng giờ phút này không phải là lúc trả lời bằng trí óc, mà bằng những đầu gối quỳ phục bên Hài Nhi, để họ hoàn toàn sống sự hiện diện của Đấng Cứu Thế và sự hiện diện của chính họ.
3) “Họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này”
Từ chiêm niệm đi tới hành động, đó là con đường của đức tin. Đức tin được biểu lộ qua hành động. Các người chăn chiên hành động bằng cách kể lại câu truyện Hài Nhi Giêsu cho những người họ gặp tại miền đất Do Thái. Cũng như ngày nay ta nói trong Đại Hội Truyền giáo tại châu Á: chúng ta kể lại câu truyện Chúa Giêsu cho người dân châu Á. Đó là cách rao giảng Tin mừng, ngày xưa hay hôm nay thì cũng theo cùng một phương thức kể truyện. Dĩ nhiên không chỉ kể bằng lời, nhưng quan trọng hơn bằng cuộc sống hằng ngày.
Các người chăn chiên tiếp tục hành trình đức tin của họ. Họ “ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa.” Những nẻo đường họ đi qua, dù chỉ là nẻo đường quen thuộc trở về với bổn phận coi sóc đàn chiên, cũng sẽ là những nẻo đường để họ sống và biểu lộ lòng tin vào ơn cứu độ Thiên Chúa đã ban cho họ.
4) Suy nghĩ và cầu nguyện
Nhìn ngắm hang đá được trang hoàng tại nhà thờ hay tại nhà, tôi có chú tâm vào “Hài Nhi nằm trong máng cỏ” hay chỉ thấy hoa đèn rực rỡ ? Tôi có được dăm ba phút để suy niệm về những danh hiệu của Hài Nhi và ý nghĩa biểu tượng của máng cỏ không ?
Tôi sẽ kể câu truyện Chúa Giêsu cho những người tôi gặp, trong gia đình, nơi sở làm… như thế nào
SUY NIỆM 3: NHẬN RA VÀ SỐNG NIỀM VUI GIÁNG SINH
Sau những ngày chuẩn bị, từ việc làm hang đá, trang trí đến việc chuẩn bị tâm hồn, chúng ta đã bước vào mùa Giáng Sinh với thánh lễ Vọng Giáng Sinh đêm hôm qua. Trong suốt mùa Giáng Sinh, chúng ta mừng mầu nhiệm Ngôi Hai Thiên Chúa làm người để cứu chuộc nhân loại. Cách riêng, chúng ta mừng mầu nhiệm này một cách trọng thể trong ngày lễ chính ngày hôm nay.
Các bài đọc lời Chúa mà chúng ta vừa nghe giúp chúng ta hiểu thêm về nguồn gốc của vị Hài Nhi Giêsu và chương trình cứu độ mà Thiên Chúa dành cho nhân loại. Đồng thời, lời Chúa cũng mời gọi mỗi người chúng ta sống niềm vui Giáng Sinh cách tròn đầy hơn qua việc trở nên chứng nhân cho Thiên Chúa giữa môi trường mà chúng ta đang sống.
Trước tiên, bài Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe là phần mở đầu của Tin Mừng theo thánh Gioan. Nơi ấy, tác giả Tin Mừng cho chúng ta biết Hài Nhi Giêsu mà chúng ta mừng kính có nguồn gốc đặc biệt qua những lời khẳng định: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa. Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành” (Ga 1,1-3). Như thế, Hài Nhi Giêsu của chúng ta là một vị Thiên Chúa hằng hữu đã cùng hiện diện với Chúa Cha và cùng Chúa Cha tạo dựng toàn thể vũ trụ này. Tuy nhiên, vị Thiên Chúa ấy không phải chỉ ở mãi trên chốn trời cao mà: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật.” (Ga 1,14). Ngôi Lời đã đến thế gian và cư ngụ giữa nhân loại không phải để dạo chơi, cũng chẳng phải vì hiếu kỳ và cũng chẳng phải là một việc làm ngẫu hứng mà để: “Những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa” (Ga 1,12), và “từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác.” (Ga 1,16)
Tiếp đến, nơi bài đọc hai trích từ thư hữu Hípri, vị tác giả cho chúng ta biết thêm rằng, chương trình cứu độ mà Thiên Chúa dành cho nhân loại và việc Ngôi Hai xuống thế làm người là một chương trình từ đời đời của Thiên Chúa. Điều ấy đã được tỏ lộ một cách tiệm tiến trong dòng lịch sử nhân loại và được viên mãn nơi Đức Giêsu Kittô Ngôi Lời nhập thể. Quả vậy: “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử” (Hr 1,1-2). Nhân loại đã được diện kiến tôn nhan Ngôi Hai nơi máng cỏ hang bò lừa năm xưa. Thánh nhan ấy vẫn tiếp tục chiếu tỏa để “khắp cùng bờ cõi trái đất sẽ nhìn thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta” (Is 52,10) như lời ngôn sứ Isaia mà chúng ta vừa nghe trong bài đọc một đã diễn tả.
Quả thế, Ngôi Hai Thiên Chúa là EmmanuEL đã đến cư ngụ giữa thế gian và vẫn tiếp tục ở cùng nhân loại mọi ngày cho đến tận thế. Nhưng, có một thực tế là nhiều người không nhận ra và thậm chí là không đón nhận Ngôi Lời là ánh sáng đích thật. Điều này cũng được nhắc đến trong bài Tin Mừng hôm nay: “Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người. Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người. Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga, 1,7-11). Không phải chỉ những người thời Chúa Giêsu không đón nhận Ngài mà thôi, mà nhân loại ngày nay vẫn còn rất nhiều người chưa nhận ra, chưa tin vào Thiên Chúa. Chúng ta cũng có thể thấy điều này nơi chính quê hương đất nước chúng ta; thậm chí là thấy nơi môi trường chúng ta đang sống, vẫn còn rất nhiều người chưa tin nhận Chúa. Theo trang báo điện tử danso.org, dân số Việt Nam được cập nhật trong ngày 10/10/2024 là 99.666.236 người [1]. Như thế là xấp sỉ 100 triệu dân. Trong đó, tỉ lệ người Công Giáo chỉ chiếm khoảng 7%. Như vậy, con số những người chưa tin Chúa ở Việt Nam là khoảng 70 triệu người; một con số không hề nhỏ.
Chính vì không tin vào Chúa, hay đi xa hơn là loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống của mình, coi bản thân là chúa của đời mình, nên hậu quả là nhân loại vẫn còn sống trong “bóng đêm” của giận hờn, ghen ghét, chiến tranh và chết chóc. Hay thậm chí, chúng ta là những người dù đã tin vào Chúa, nhưng nhiều khi lại chưa sống niềm tin cách mãnh liệt. Có lẽ, vì chưa cảm nhận được sâu sa sự hiện diện của Ngôi Lời nhập thể, nên chúng ta cũng chưa mạnh dạn làm chứng, chưa mạnh dạn nói về Chúa cho những người xung quanh để mọi người được đón nhận ánh sáng của Ngôi Hai; ánh sáng đích thật của Thiên Chúa vẫn hằng chiếu soi và mang đến ơn cứu độ cho con người.
Vì thế, ước mong qua lễ Giáng Sinh năm nay, mỗi người chúng ta một lần nữa ý thức hơn Hài Nhi Giêsu là ánh sáng đích thật mang lại ơn cứu độ cho chúng ta, để rồi chúng ta cũng biết sống niềm tin của mình cách mãnh liệt và trở nên những sứ giả loan báo Tin Mừng bình an của Chúa cho nhân loại hôm nay. Xin Chúa chúc lành cho từng người chúng ta. Amen.
Lm. F.X Đinh Duy Thiên, SVD
SUY NIỆM 4:
Thật âm thầm,lặng lẽ và đơn sơ, Con Thiên Chúa nhập cuộc vào trần thế giữa một đêm đông giá lạnh.Không kèn,không trống,không ai đưa ai đón, sao mà lẻ loi và hoang vắng đến lạ thường.Vào cuộc đời là bắt đầu cảnh khó nghèo,phải chăng Chúa muốn dạy chúng con,đường trọn lành không phải là con đường của nhung lụa,con đường rộng rãi thênh thang hay con đường tràn ngập tiếng reo hò vỗ tay; nhưng là con đường hẹp,âm thầm và khổ giá.Mầu nhiệm Giáng Sinh của Chúa đang mở ra cho chúng ta nhiều bài học,những bài học lạ kỳ,những bài học thật gần gũi,nhưng cũng đòi hỏi nhiều nỗ lực và cố gắng.
“Họ liền hối hả ra đi”.Các mục đồng nghèo khổ là những chàng lãng tử chăn thuê.Họ là những người có vinh dự được đón tiếp và chiêm ngưỡng việc nhập thể của Con Thiên Chúa.Chẳng cao sang quyền quý,chẳng quà cáp ì xèo,nhưng với tâm hồn đơn sơ,chân thành,họ là những người thật diễm phúc trên đời.
“Ai cũng ngạc nhiên”.Xem chừng như sự việc cũng chỉ dừng lại ở những tiếng xì xào,bàn tán,có chăng là những con mắt tròn xoe.Thế rồi chẳng ai dám dấn thân ra đi để chiêm ngắm Chúa. Tò mò,ích kỷ và hám lợi,đó là tất cả lòng người.Họ không dám đến với Chúa,vì sợ phải chia sẻ với cảnh khó nghèo của gia đình Thánh Gia.Họ không dám đến gần Chúa vì sợ điều tiếng hay liên lụy không tốt.Họ chỉ dừng lại ở sự ngạc nhiên,để giữ sự an toàn cho mình.
“Còn Mẹ Ma-ri-a thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng”.Con Mẹ sinh ra trong cảnh khó nghèo,cô đơn và cùng cực.Mẹ chẳng biết cậy trông ai trên đất khách quê người xa lạ.Mẹ không hiểu và càng khó hiểu, sao Con Mẹ,Con Thiên Chúa,lại chấp nhận cái nghèo, sự thiếu thốn đến cùng cực.Mẹ không than van hay kêu trách,nhưng Mẹ sống tâm tình vâng phục và phó thác ngày nào, khi Mẹ được mời gọi nhập cuộc vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa.Cùng với Con,Mẹ sẵn sàng thưa tiếng xin vâng và chấp nhận mọi nghịch cảnh.
Chúa đã chẳng làm một phép lạ nào cho ngày Mình giáng sinh vào trần thế sao cho thật huy hoàng và hoành tráng.Chúa cũng chẳng đòi hỏi hay phiền lụy đến ai,khi nói lời nhờ cậy. Chúa đến trần gian một cách âm thầm và đơn nghèo nhất,như những kẻ cô thân cô thế,không nơi nương tựa.Chúa chỉ muốn chia sẻ kiếp người nghèo khó, và dạy chúng con luôn biết sống đơn sơ,quảng đại,để làm vơi bớt những khổ đau của tha nhân.
Lời Cầu Nguyện
Lạy Chúa,Chúa đến để ban cho con người chúng con được hạnh phúc và bình an.Chúa nhận hết vào con người Mình sự nghèo khó,đói rách và cô đơn,để cho con người được giầu có và ấm áp.Chúa đã trở thành món quà đặc biệt, để con người thụ hưởng mọi phú quý vinh quang.Xin giúp chúng con luôn biết quý trọng những ơn lành của Chúa,và sẵn sàng là quà tặng cho anh em mình bằng tấm lòng quảng đại và cho đi.Amen.
Lm Gioan B. Phan Kế Sự
SUY NIỆM 5: TỎ TƯỜNG
Con Chúa làm người vì thương xót
Phàm nhân hạnh phúc đón Thánh Ân
Ngôn sứ Isaia cho biết: “Một hài nhi đã sinh ra cho chúng ta, một người con đã được ban cho chúng ta, hài nhi sẽ tiếp nhận quyền bính trên vai và thiên hạ sẽ gọi tên Người là Cố Vấn kỳ diệu” (Is 9:6). Một sự thật minh nhiên, một chân lý tỏ tường. Đã là sự thật thì không thể chối cãi, vì sự thật mãi mãi là sự thật, và chính sự thật sẽ giải thoát chúng ta (x. Ga 8:32).
Ngôn sứ Isaia vừa thông báo vừa mời gọi: “Đây là lời Đức Chúa loan truyền cho khắp cùng cõi đất: Hãy nói với thiếu nữ Sion: Kìa ơn cứu độ ngươi đang tới. Kìa phần thưởng của Người theo sát một bên, và thành tích đi ngay trước mặt” (Is 62:11). Tại sao chỉ nói với thiếu nữ Sion mà không nói với nam giới Sion? Thiết tưởng, nữ giới là phái yếu, thường bị áp bức, bị khinh miệt,… Và họ có thể đại diện cho những người hèn mọn, thấp cổ bé miệng, bị chà đạp nhân phẩm, bị tước đoạt nhân quyền, bị miệt thị nhân vị,… Họ cũng chính là chúng ta, những người bị tội lỗi đè đầu, bị thói hư tật xấu kiểm soát, bị xã hội ruồng bỏ.
Thực sự Đức Chúa đã đến hơn hai ngàn năm qua rồi. Lễ Giáng Sinh chỉ là kỷ niệm đại sự kiện Con Chúa làm người mà thôi. Vấn đề là chúng ta có để Chúa đến trong linh hồn chúng ta hằng ngày, mọi nơi và mọi lúc hay không. Nếu chúng ta “cho phép” Chúa vĩnh cư nơi hang-đá-tâm-hồn thì chúng ta sẽ được gọi là “dân thánh”, là “những người được Đức Chúa cứu chuộc”, được gọi là “cô gái đắt chồng”, là “thành không bị bỏ” (Is 62:12). Như vậy thì thật là đại phúc!
Và nếu được đại phúc đó thì vô cùng vui mừng. Tác giả Thánh Vịnh nói: “Chúa là Vua hiển trị, hỡi địa cầu, hãy nhảy mừng lên, vui đi nào, ngàn muôn hải đảo! Mây u ám bao phủ quanh Người, bệ ngai rồng là công minh chính trực. Ngọn lửa hồng mở lối tiên phong, đốt tiêu tan địch thù tứ phía. Ánh chớp của Người soi sáng thế gian, địa cầu trông thấy mà run sợ; núi tan chảy như sáp, khi diện kiến Thánh Nhan vị Chúa Tể hoàn cầu. Trời xanh tuyên bố Người là Đấng chính trực, hết mọi dân được thấy vinh quang Người” (Tv 97:1-6). Thiên Chúa có phong cách không hề giống phàm nhân, tất nhiên chúng ta không thể nào hiểu nổi, chỉ còn biết cúi đầu kính phục, thờ lạy và chúc tụng. Nói theo kiểu thời @ ngày nay thì đó là “trên cả tuyệt vời”!
Thiên Chúa công chính nên Ngài muốn mọi thứ cũng phải tỏ tường, nghiêm chỉnh, chính xác, trước sau như một. Và vì thế mà Ngài “bị động” theo kiểu “bất lực”. Thiên Chúa mà “bất lực” ư? Vâng, đúng vậy. Nhưng Ngài “bất lực” cái gì và tại sao? Ngài “bất lực” về sự dối trá, nhẫn tâm, thù hận, nản lòng, thất hứa,… Ngài “bất lực” trong những động thái ác độc vì Ngài là Đấng chí thiện, là sự thật và là sự sống (x. Ga 14:6). Ngài là Đấng Thánh nên Ngài cũng buộc chúng ta phải nên thánh: “Hãy nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5:48). KHÔNG NÊN THÁNH là PHẢN BỘI CHÚA.
Lý do để chúng ta vui mừng rất tỏ tường: “Ánh sáng bừng lên chiếu rọi người công chính, niềm vui làm rạng rỡ kẻ lòng ngay. Trước nhan thánh Chúa, người công chính hãy vui mừng tưởng nhớ Thánh Danh mà dâng lời cảm tạ” (Tv 97:11-12).
Lý do vui mừng càng tỏ tường hơn theo “tầm nhìn” của Thánh Phaolô: “Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta, đã biểu lộ lòng nhân hậu và lòng yêu thương của Người đối với nhân loại. Không phải vì tự sức mình chúng ta đã làm nên những việc công chính, nhưng vì Người thương xót, nên Người đã cứu chúng ta nhờ phép rửa ban ơn Thánh Thần, để chúng ta được tái sinh và đổi mới” (Tt 3:4-5).
Niềm vui càng tăng lên theo cấp số nhân: “Thiên Chúa đã tuôn đổ đầy tràn ơn Thánh Thần xuống trên chúng ta, nhờ Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng ta. Như vậy, một khi nên công chính nhờ ân sủng của Đức Kitô, chúng ta được thừa hưởng sự sống đời đời, như chúng ta vẫn hy vọng” (Tt 3:6-7). Không còn biết nói gì hơn nữa vì niềm vui đó quá lớn, ngỡ như chỉ có trong mơ, nhưng đó lại là sự thật hiển nhiên. Đúng là đại phúc cho chúng ta!
Các mục đồng nghèo khổ và dốt nát nhưng lại hạnh phúc nhất: Những người đầu tiên được báo Tin Mừng và được trực tiếp diện kiến Chúa Hài Đồng. Họ là những nhân chứng sống động mà chúng ta phải noi gương.
Khi các thiên sứ từ biệt mấy người chăn chiên để về trời, những người này bảo nhau: “Nào chúng ta sang Belem, để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ cho ta biết” (Lc 2:15). Thánh Luca cho biết là “họ liền hối hả ra đi”. Mau mắn hành động mà không chút đắn đo, suy tính. Lại một tấm gương sáng về việc “sống đạo” khiến chúng ta phải “giật mình” lắm!
Khi đế nơi phải đến, họ gặp Cô Maria và Chú Giuse, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ. Thấy thế, họ không ngạc nhiên, và rồi họ không thể im lặng, gặp ai họ cũng liền tíu tít kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này. Khi nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên vô cùng.
Riêng Cô Maria thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng (Lc 2:19). Phong cách Cô Maria thật “khác người”, đúng là một thục nữ nhu mì và ngoan hiền. Thánh sử Luca cho biết thêm: “Các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ” (Lc 2:20). Quả thật, mọi điều đã tỏ tường. Kế hoạch của Thiên Chúa thật là mầu nhiệm!
Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con biết mau mắn hành động vì Danh Chúa và chứng tỏ lòng thương xót của Ngài, để bất kỳ ai gặp chúng con thì cũng gặp được chính Ngài, qua các động thái yêu thương chân thành nhất. Xin giúp chúng con biết noi gương Đức Maria và Đức Giuse là NÓI ÍT mà LÀM NHIỀU. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.
Trầm Thiên Thu
