CHÚA NHẬT XXVII THƯỜNG NIÊN NĂM A
Mt 21,33-43
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các thượng tế và các kỳ lão trong dân rằng: “Các ông hãy nghe dụ ngôn này: Có ông chủ nhà kia trồng được một vườn nho. Ông rào dậu chung quanh, đào hầm ép rượu và xây tháp canh, đoạn ông cho tá điền thuê, rồi đi phương xa. Ðến mùa nho, ông sai đầy tớ đến nhà tá điền để thu phần hoa lợi. Nhưng những người làm vườn nho bắt các đầy tớ ông: đánh đứa này, giết đứa kia và ném đá đứa khác. Chủ lại sai một số đầy tớ khác đông hơn trước, nhưng họ cũng xử với chúng như vậy. Sau cùng chủ sai chính con trai mình đến với họ, vì nghĩ rằng: Họ sẽ kính nể con trai mình. Nhưng bọn làm vườn vừa thấy con trai ông chủ liền bảo nhau: “Ðứa con thừa tự kia rồi, nào anh em! Chúng ta hãy giết nó đi và chiếm lấy gia tài của nó”. Rồi họ bắt cậu, lôi ra khỏi vườn nho mà giết. Vậy khi chủ về, ông sẽ xử trí với bọn họ thế nào?” Các ông trả lời, “Ông sẽ tru diệt bọn hung ác đó, và sẽ cho người khác thuê vườn nho để cứ mùa nộp phần hoa lợi”.
Chúa Giêsu phán: “Các ông chưa bao giờ đọc thấy trong Kinh Thánh: “Chính viên đá bọn thợ loại ra, đã trở nên viên đá góc. Ðó là việc Chúa làm và là việc lạ lùng trước mắt chúng ta!” Bởi vậy, Tôi bảo các ông: Nước Thiên Chúa sẽ cất khỏi các ông để trao cho dân tộc khác biết làm cho trổ sinh hoa trái”.
SUY NIỆM 1: THIÊN TÌNH SỬ
Dụ ngôn những Tá điền sát nhân mà Chúa Giêsu vừa kể phác họa cho chúng ta một cách ngắn gọn nhưng đầy đủ về lịch sử cứu độ, một “Thiên Tình sử” giữa Thiên Chúa và Dân Người. Nơi đó, Thiên Chúa đã tạo dựng và hằng yêu thương chăm sóc cho con người, nhưng con người lại phản bội, bất trung, mà từ khước Thiên Chúa.
Trong bài đọc 1, ngôn sứ Isaia đã diễn tả tương quan giữa Thiên Chúa với dân Người qua hình ảnh “Người tôi yêu”, tức là ông chủ và “vườn nho”: “Người tôi yêu có một vườn nho trên đồi xinh tươi”. Bằng những ngôn ngữ đơn giản, cụ thể, Isaia đã nêu bật lên những công khó, cũng như tình yêu và cả tâm huyết mà ông chủ dành cho vườn nho của mình: “Người rào giậu, nhặt đá, trồng cây chọn lọc, xây tháp giữa vườn, lập máy ép trong vườn” và mong cho vườn nho ấy sinh quả tốt tươi. Thế nhưng, đến mùa hái nho, vườn nho ấy lại chẳng như ông chủ ước mong: thay vì sinh quả tốt, thì nó lại sinh nho dại. Tới đây, lời oán trách của vị ngôn sứ vang lên: vườn nho vô ơn bạc nghĩa chính là dân Israel. Họ không đáp đền lại tình yêu và lòng bao dung nhân hậu của Chúa, chẳng thực hành điều chính trực, đức công bình, nhưng đầy dẫy sự gian ác.
Nhưng dù dân có bất tín, bất trung hay lầm đường lạc lối, Thiên Chúa vẫn tiếp tục kế hoạch yêu thương của Người mà chăm sóc, bảo vệ dân qua việc gởi đến cho dân các ngôn sứ để cảnh tỉnh họ, giúp họ quay trở lại với Thiên Chúa mà bước đi trên con đường của Người để trổ sinh hoa quả tốt tươi. Thế nhưng, con người vẫn cứ từ khước Thiên Chúa, họ chẳng sám hối, mà bắt bớ các ngôn sứ: đánh người này, giết người kia và ném đá người nọ. (Những người làm vườn nho, những người mà đáng lý ra cảm nhận rõ nét nhất tấm lòng của ông chủ khi được gọi làm vườn nho vào giờ thứ 11, thì chính họ đã bắt các đầy tớ của ông chủ mà đánh đập và giết chết). Họ chẳng nghe lời cảnh tỉnh của các ngôn sứ, vì nếu nghe buộc họ phải thay đổi cả lối sống bất lương của mình. Họ không chấp nhận thay đổi, nên lơ đi lời cảnh báo đầy yêu thương của Thiên Chúa.
Dẫu thế, Thiên Chúa vẫn tiếp tục kiên trì yêu thương con người, và đỉnh cao là sai chính Con Một của mình là Chúa Giêsu đến, mong rằng họ sẽ nể con ta mà thay đổi. Thế nhưng, họ đã giết chết Chúa Giêsu trên cây Thập giá. Nói cách khác, họ đã muốn tiếm quyền của Thiên Chúa: thay vì lãnh nhận, họ đã tìm cách chiếm đoạt vườn nho. Ngay lúc họ vui mừng vì giết được Đứa con thừa tự, giết được Chúa Giêsu để chiếm lấy Vườn nho, thì cũng là lúc, Thiên Chúa, ngang qua cuộc phục sinh của Đức Giêsu, đã lấy lại vườn nho là Nước Thiên Chúa mà trao lại cho Hội Thánh là dân Israel mới, để ngang qua Hội Thánh, Chúa tiếp tục yêu thương, nâng đỡ con người trong hành trình tiến về với Người.
Như thế, dòng lịch sử cứu độ làm nổi bật lên cách ứng xử của Thiên Chúa. nếu như con người bất trung, thì lối ứng xử của Thiên Chúa là cách ứng xử của một người Cha yêu thương không muốn con cái mình tiếp tục sống trong tội lỗi. Người ghét tội nhưng lại yêu thương người có tội, nên Người sẽ chẳng “tru diệt” như lời các thượng tế và kỳ lão, mà tìm đủ mọi cách để lôi kéo con người quay trở lại, thậm chí ngay cả cái chết của chính Con Một Người để đánh thức lương tâm của con người.
Thiên Chúa, qua bí tích Rửa tội, đã giải thoát chúng ta khỏi ách nô lệ của tội lỗi, cho chúng ta được diễm phúc gia nhập Hội thánh, trở nên con Thiên Chúa và tin tưởng giao phó cho chúng ta kho tàng Nước Trời. Đó là lời mời gọi chúng ta nhận ra tình yêu thương, quan tâm chăm sóc và sự tin tưởng mà Thiên Chúa dành cho chúng ta, để biết sinh hoa kết trái trong cuộc đời của mình: hoa trái của tấm lòng yêu thương, cảm thông, nâng đỡ không hận thù, ghen ghét hay đố kị; hoa trái của lời nói xây dựng, góp ý trong tình hiệp nhất chứ không phải lời gây chia rẽ, phá hoại; hay nói như lời Thánh Phaolô nói trong bài đọc 2: “những gì là chân thật, trong sạch, công chính, là thánh thiện, đáng yêu chuộng, danh thơm tiếng tốt, là nhân đức, là luật pháp đáng khen, thì anh em hãy tưởng nghĩ những sự ấy” (và Thiên Chúa là nguồn bình an sẽ ở cùng anh em).
Xin cho Lời Chúa mà chúng ta vừa nghe và Thánh Thể chúng ta sắp đón nhận nuôi dưỡng và làm cho cuộc đời chúng ta trổ sinh hoa trái.
Lm. JB. LA
SUY NIỆM 2: TẤT CẢ ĐƯỢC MỜI GỌI XÂY DỰNG GIÁO HỘI CỦA CHÚA
Chúa Giêsu trong khi rao giảng, đã nhiều lần mạc khải về sứ mạng của Người. Nhưng các thượng tế và kỳ mục, vốn lòng đầy tự mãn nên đã không đón nhận những lời giảng dạy của Người. Vì thế, Chúa Giêsu đã kể dụ ngôn nghiêm khắc này nhằm ám chỉ đến họ là những người lãnh đạo tôn giáo của dân Israel, vốn được coi là dân riêng của Thiên Chúa. Thực vậy, qua dụ ngôn, Chúa Giêsu cho thấy Thiên Chúa yêu thương dân Người như người trồng nho yêu vườn nho của mình. Trong Kinh Thánh, Dân Chúa thường được ví như vườn nho, như chúng ta được nghe trong bài đọc I của ngôn sứ Isaia. Thế nhưng, những người được Chúa trao phó chăm sóc vườn nho này, tức là các thượng tế và kỳ mục, lại cho rằng vườn nho này là tài sản của riêng họ. Thay vì thu hoạch và trao lợi tức lại cho chủ, họ lại muốn chiếm đoạt vườn nho, vì thế họ không ngần ngại ngược đãi và giết những đầy tớ được chủ sai đến, tức là các ngôn sứ. Và qua việc họ giết luôn người con của ông chủ, Chúa Giêsu tiên báo rằng Người cũng sẽ bị họ giết chết.
Những nhà lãnh đạo Do Thái tưởng giết Chúa Giêsu để nắm trọn vận mạng dân tộc. Nhưng họ sẽ bị truất quyền và bị trừng phạt; Chúa ám chỉ sự tàn phá đền thờ Giêrusalem sau này. Còn Nước Thiên Chúa là vườn nho của Người thì sẽ được ban cho dân khác biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi. Dân mới này là Giáo hội quy tụ lại từ mọi dân thiên hạ.
Nếu Mátthêu có ý đưa vào sách Tin Mừng của mình câu chuyện giữa Chúa Giêsu và các nhà lãnh đạo tôn giáo của dân Do Thái, là vì có điều gì đó thánh sử muốn nói với các thế hệ Kitô hữu tiên khởi và với chúng ta hôm nay.
Thực vậy, vườn nho là dân Chúa nhưng cũng chính là thế giới của chúng ta đang sống hôm nay. Thiên Chúa là chủ vườn nho, chính Người chăm sóc vườn nho của mình, nhưng Chúa cũng tin tưởng và trao cho chúng ta trách nhiệm trông coi vườn nho của Người là mọi loài thụ tạo. Việc ông chủ đi phương xa ám chỉ rằng Chúa muốn chúng ta được tự do trong trách nhiệm chăm sóc thế giới, như Chúa đã nói với ông Ađam và bà Evà: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều... và thống trị mặt đất” (St 1,28). Giáo hội đã nhiều lần nhắc lại phẩm giá cao cả này của con người.
Đôi lúc chúng ta oán trách Chúa vì sự vắng mặt của Người trước sự dữ. Nhưng qua dụ ngôn hôm nay, Chúa Giêsu cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa luôn hiện diện cách kín đáo. Người luôn bên cạnh, nhưng Người không can thiệp vào những quyết định của chúng ta, vì Người tôn trọng sự tự do đã được ban cho chúng ta. Phần chúng ta, mỗi người phải chịu trách nhiệm và phải trả lời cho Chúa về cách mình sử dụng sự tự do trong trách nhiệm chăm sóc và phát triển thế giới này.
Chúng ta không sở hữu Thiên Chúa và các chân lý của Người, cũng không sở hữu Giáo hội hay Vương quốc của Người. Nước Thiên Chúa được giao phó cho chúng ta không phải để chúng ta chiếm hữu cho riêng mình, nhưng là để chúng ta làm cho Nước ấy được lan rộng đến với hết mọi người. Đó là một hồng ân nhưng cũng là một trách nhiệm. Trách nhiệm của người môn đệ Chúa Giêsu là vun trồng và phát triển những gì họ đã nhận một cách nhưng không, làm sinh hoa kết trái những ân ban, những tài năng đã lãnh nhận. Và đừng bao giờ quên rằng chính Chúa Kitô mới là “đá tảng góc tường” của mọi công trình, và Người luôn hoạt động trong thế giới hôm nay.
Nếu Chúa Kitô luôn xây dựng Giáo hội “của Người”, nếu Người là “viên đá góc” của ngôi nhà Giáo hội, thì đó không phải là công trình của con người, nhưng, như trong Thánh vịnh 117, câu 22-23 mà chính Chúa Giêsu đã trích dẫn trong đoạn Tin Mừng này: “đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta.”
Bài Tin Mừng hôm nay một lần nữa mời gọi mỗi người chúng ta hãy nhìn lại cách mình đang chăm sóc “vườn nho” mà Chúa trao phó cho chúng ta. “Vườn nho” đó có thể là những ơn riêng, những tài năng mà Chúa ban cho mỗi người, nhưng đó cũng có thể là những trách nhiệm mà chúng ta đang đảm nhận trong gia đình, trong giáo xứ hoặc ở trường lớp, nơi công sở, ngoài xã hội, v.v... Liệu chúng ta có đang làm cho vườn nho của Chúa sinh hoa lợi, hay chúng ta đã chiếm đoạt nó làm của riêng mình?
Xin cho mỗi người chúng ta, với sự dấn thân và lòng can đảm, nhất là với ơn Chúa ban, chúng ta biết làm cho vườn nho của Chúa được trổ sinh hoa trái dồi dào như lòng Chúa mong ước. Amen.
Lm. Giuse Vũ Thái Hòa
SUY NIỆM 3: MỘT DÂN SINH HOA LỢI
Hôm nay, Giáo Hội cho chúng ta nghe dụ ngôn những tá
điền.
Những tá điền này được chủ cho canh tác vườn nho của mình,
để đến mùa hái nho, họ giao lại cho ông hoa lợi.
Đây là một vườn nho được ông chủ quan tâm săn sóc.
Ông đã trồng, đã rào giậu, khoét bồn đạp nho và xây tháp canh.
Tiếc thay, khi ông chủ sai các đầy tớ đến để thu hoa lợi
các tá điền chẳng những không nộp,
mà còn hành hạ họ và giết đi (c. 35).
Nhóm đầy tớ thứ hai cũng chịu chung số phận (c. 36).
Nhưng ông chủ vẫn không thất vọng trước sự độc ác của họ.
Sau cùng, ông đã sai chính con trai mình đến với họ.
Nhưng đứa con thừa tự cũng chẳng được nể vì,
anh bị lôi ra khỏi vườn nho và giết đi.
Khi kể dụ ngôn này Đức Giêsu nhận mình là người con ấy,
và ông chủ vườn nho là Thiên Chúa Cha.
Ngài tiên báo về cái chết sắp đến của mình
bởi tay những tá điền sát nhân
là các nhà lãnh đạo Do thái giáo đương thời.
Cái chết của Đức Giêsu nằm trong chuỗi
những cái chết của các ngôn sứ trong dòng lịch sử.
Họ là các đầy tớ đã được Thiên Chúa sai đến với dân Israel.
Tuy nhiên, cái chết ấy đặc biệt cao quý
vì là cái chết của chính Con Thiên Chúa.
Hơn nữa, cái chết ấy không phải là một dấu chấm hết.
Nó là cánh cửa mở ra một trang mới của lịch sử,
không chỉ là lịch sử của dân Israel, mà của cả nhân loại.
“Viên đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên viên đá góc.
Đó là công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta (c. 42).
Giáo Hội sơ khai thích dùng câu trên của thánh vịnh 118,
để nói về việc Đức Giêsu được tôn vinh (x. Cv 4,11; 1Pr 2,7).
Bị loại bỏ là hành vi độc ác của con người,
còn trở nên viên đá góc là việc làm kỳ diệu của Thiên Chúa.
“Thu hoa lợi”, “nộp hoa lợi”, “sinh hoa lợi” (cc. 34, 41, 43).
Hoa lợi là điều ông chủ nhắm tới khi đầu tư cho vườn nho.
Ông đã không thu được hoa lợi gì từ những tá điền độc ác,
bởi đó ông đã lấy lại vườn nho, cho người khác làm.
Vườn nho bây giờ được hiểu là Nước Thiên Chúa.
Nước này không còn nằm trong tay giới lãnh đạo dân Do-thái,
nhưng được trao cho một dân biết sinh hoa lợi (c. 43).
Dân mới ấy chính là Giáo Hội phổ quát,
gồm cả dân ngoại và những người Do-thái tin Đức Giêsu.
Chúng ta thuộc về Giáo Hội, thuộc về đoàn dân mới.
Chúng ta hãnh diện vì được trao vườn nho là Nước Thiên Chúa,
và mang trách nhiệm phải sinh hoa lợi cho xứng ở đời này.
Làm thế nào để Giáo Hội nộp hoa lợi đúng mùa cho Chủ?
Làm thế nào để chúng ta không rơi vào tội của các tá điền đi trước?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu,
con thường thấy mình không có thì giờ,
nhưng đồng thời cũng thấy mình
lãng phí bao thời gian quý báu.
Nhiều khi con tự hỏi
mình thực sự làm việc bao nhiêu giờ mỗi ngày.
Xin cho con biết quý trọng từng giây phút
đang trôi qua mà con không sao giữ lại được.
Chúa đã trao cho con nén bạc thời gian,
để con sinh lợi tối đa theo ý Chúa.
Xin cho con luôn làm việc như Chúa :
hăng say, tận tụy và vui tươi,
vâng phục, có phương pháp và đầy sáng tạo.
Vì quá khứ thì đã qua,
và tương lai thì chưa đến,
nên xin dạy con biết trân trọng giây phút hiện tại.
Xin cho con thấy Chúa
lúc này đang ở đây bên con,
và đang mời gọi con đáp lại tiếng của Ngài
bằng những hành động cụ thể.
Con xin hiến dâng Chúa giây phút này
như một hy lễ,
với tất cả những bất ngờ, đớn đau, thách đố.
Ước gì con dám sống hết mình giây phút hiện tại
để hiện tại đưa con vào vinh cửu của Chúa. Amen.
Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu. SJ
SUY NIỆM 4: CHÚA LÀ ĐẤNG TRUNG TÍN
Hôm nay chúng ta quan sát điều gọi là mầu nhiệm khước từ Thiên Chúa nói chung và cụ thể là Chúa Giêsu Kitô . Ngạc nhiên thay cho sự cứng đầu cứng cổ của con người trước tình yêu bao dung của Thiên Chúa.
Điều ấy ngụ ý nói, dụ ngôn này liên quan đến việc người Do Thái khước từ Chúa Giêsu: “Sau cùng chủ sai chính con trai mình đến với họ, vì nghĩ rằng: Họ sẽ kính nể con trai mình. Nhưng bọn làm vườn vừa thấy con trai ông chủ liền bảo nhau: ‘Đứa con thừa tự kia rồi, nào anh em! Chúng ta hãy giết nó đi và chiếm lấy gia tài của nó’. Rồi họ bắt cậu, lôi ra khỏi vườn nho mà giết.” (Mt 21, 37-39) Thật không thể hiểu nổi: Chúa Giêsu Kitô “Đấng Mêsia”, Đấng mà người Do thái mong đợi đến cứu dộ trần gian. Vậy mà khi Người đến, họ lại khước từ.
Khi tôi ở Đất Thánh, người ta có phát cho tôi một tờ hướng dẫn du lịch, trong đó có in thông tin về những người Do Thái nổi tiếng nhất trong lịch sử Do thái: từ Maisen, Giêđêôn và Giôsuê đến Ben Guriôn, người sáng lập Nhà nước Israel. Tuy nhiên, lại không có một chút thông tin nào về Chúa Giêsu. Dù Chúa Giêsu là người nổi tiếng nhất trong lịch sử Do thái: dầu đã chết cách đây gần 2000 năm, nhưng hôm nay cả thế giới biết đến.
Theo dòng thời gian những bậc vĩ nhân ấy luôn được tôn trọng nhưng không còn được yêu nữa. Ngày nay, người ta không thích Cervantê hay Michel Angelô. Trái lại, Chúa Giêsu là người được yêu thích nhất trong lịch sử. Trên thế giới có hàng ngàn người nam cũng như nữ đã hiến dâng mình cho Chúa. Có những người đã đổ máu đào vì Chúa, một số khác sống từng ngày cho Chúa.
Chúa Giêsu là người có ảnh hưởng nhất trong lịch sử. Các giá trị đạo đức có hiệu lực ở mọi nơi đều có nguồn gốc Kitô giáo. Không chỉ vậy, mà còn hơn thế nữa, ngày nay Chúa Giêsu rất gần với thời đại chúng ta, ngay cả những người Do Thái, (“người anh cả của chúng ta trong đức tin”, nói theo kiểu Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II). Chúng ta hãy cầu xin Chúa cách riêng cho người Do Thái đã hoán cải theo Chúa Kitô, những nhân vật vĩ đại này sẽ có lợi cho toàn thể thế giới.
Qua dụ ngôn, Chúa Giêsu diễn tả tương quan giữa Thiên Chúa với người Do thái, đồng thời phác họa lịch sử tương quan của Thiên Chúa với toàn thể nhân loại chúng ta. Chúng ta có thể trách cứ dân Israel hay cha ông họ là những tá điền sát nhân, vì chẳng những từ chối tình yêu thương của Thiên Chúa mà còn giết hại chính Con Một Ngài. Coi chừng câu nói: “Đứa con thừa tự kia rồi, nào anh em! Chúng ta hãy giết nó đi và chiếm lấy gia tài của nó” (Mt 21,38) lại là của chính chúng ta. Bởi lẽ, ngày hôm nay chúng ta phải nói rằng Chúa Giêsu đã “bị quăng ra ngoài vườn nho,” bị quăng ra ngoài bởi những người xưng mình là Kitô hữu, hay là có khi phản Kitô hữu. Những lời nói của những tá điền vườn nho dội lên không bằng lời thì cũng ít nhất bằng những việc làm trong xã hội tục hóa ngày nay. Nhân loại tục hóa muốn làm người thừa tự, làm ông chủ.
Chúng ta tự hỏi: Tôi đã chuẩn bị thế nào để Chúa Kitô sống trong tôi? Tôi đáp trả tình yêu vô biên của Chúa dành cho tôi bằng cách nào? Tôi đã tình cờ quăng Người ra ngoài nhà tôi, ngoài sự sống của tôi; nghĩa là tôi đã quên và không biết Chúa Kitô chăng?
Thiên Chúa vẫn một lòng trung tín. Tình yêu của Ngài mạnh hơn tội lỗi và sự bất trung của con người. Ngài tiếp tục sai chính Con Một Ngài đến trao nộp vì chúng ta để bảo đảm cho tới cùng tình yêu trao ban cứu độ thế gian.
Lịch sử nhân loại được hoàn tất nhờ cái chết trên Thập giá. Nhờ cái chết, Chúa Giêsu đã tiêu diệt sự dữ. Nhờ phục sinh, Thiên Chúa đã nâng con người lên bằng sức mạnh của tình yêu, Người đã tiêu diệt hận thù. “Chính viên đá bọn thợ loại ra, đã trở nên viên đá góc” (Mt 21, 42), đền thờ Thiên Chúa được phục hồi. Vườn nho trở nên Vương Quốc của Giao Ước Mới, vì Nước Trời không bị phá hủy, từ nay “Nước Thiên Chúa sẽ cất khỏi các ông để trao cho dân tộc khác biết làm cho trổ sinh hoa trái” (Mt 21, 43).
Ông chủ vườn nho nói: “Chúng sẽ nể con Ta” (Mt 21, 37). Giờ đây, Cha trên trời sắp sai Con của Người đến với chúng ta trong Bí tích Mình và Máu Người. Ta có hiểu sự cao trọng lúc này không? Ta có sẵn sàng đón tiếp Người với sự sùng kính mà Chúa Cha mong đợi không?
Hôm nay chúng ta đọc lại lịch sử Dân Chúa chọn để lên án sự loại bỏ Đức Kitô do Chúa Cha sai đến. Nhưng cũng ý thức về sự khốn cùng của chúng ta khi loại bỏ “viên đá góc”, lúc chúng ta có ý xây dựng thế giới này theo tiêu chí của chúng ta, tự coi mình là những ông chủ vườn nho của Chúa.
“Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, tình thương Chúa thật là cao cả, vượt xa mọi công trạng và ước muốn của con người, xin rộng tình tha thứ những lỗi lầm cắt rứt lương tâm chúng con, và thương ban những ơn trọng đại, lòng chúng con chẳng dám mơ tưởng bao giờ” (Lời nguyện Nhập lễ). Amen.
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
SUY NIỆM 5: NÓI VÀ LÀM
Làm người bình thường ai cũng có miệng lưỡi và tay chân. Miệng để nói, tay để làm. Tuy nhiên có người ham nói mà lại không ham làm và có người hay làm mà lại không hay nói.
Người Việt Nam ta, ai cũng mến yêu người nói ít nhưng làm nhiều và ai cũng ghét những kẻ nói nhiều nhưng làm chẳng được bao nhiêu. Điều này đã được cha ông ta diễn tả qua những thành ngữ như: “Ba voi không được bát nước sáo; trăm nghe không bằng một thấy”.
Đức Giêsu, một người Dothái là Thiên Chúa thật và cũng là người thật, Ngài đã diễn tả sự tương phản giữa “nói” và “làm”, giữa nói “có trên môi miệng”, nhưng lại nói “không trong hành động” và nói “không trên môi miệng”, nhưng lại nói “có trong hành động” qua dụ ngôn hai người con đối xử với cha:
Người con thứ nhất xem ra từ chối lời cha, nhưng lại làm theo ý cha, chứ không làm theo ý mình.
Người con thứ hai xem ra vâng phục cha, nhưng lại không làm theo lời cha mà làm theo ý mình.
Từ thái độ của hai người con đối với người cha, Đức Giêsu dẫn người nghe đến một câu hỏi và một câu trả lời: Câu hỏi là trong hai người con, ai là người làm theo ý cha? Câu trả lời là ‘người con thứ nhất’. Câu hỏi là của Đức Giêsu – người kể chuyện, dành cho các thượng tế và kỳ lão Dothái ngày xưa và cho chúng ta ngày nay. Còn câu trả lời là của thính giả ngày xưa cũng như ngày nay.
Dựa vào thái độ của hai người con và câu trả lời của thính giả, Đức Giêsu đã đưa ra một khẳng quyết nhằm nhấn mạnh sự khác biệt giữa ‘đức tin và hành động theo đức tin’ với ‘không tin và không hành động theo đức tin’, giữa sám hối thay đổi đời sống và không sám hối thay đổi đời sống: “Tôi bảo thật các anh, những người thu thế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các anh. Vì những người thu thuế và những cô gái điếm đã tin lời Gioan Tẩy Giả mà sám hối ăn năn, còn các anh sau khi đã thấy điều đó, các anh vẫn không chịu tin lời Gioan Tẩy Giả mà sám hối, thay đổi đời sống”.
Thật vậy, xưa cũng như nay, trong đạo cũng như ngoài xã hội, người ta luôn thán phục tính hiệu quả và đề cao hành động. Người ta nghi ngờ những lời nói suông, những tuyên bố trống rỗng, những thề hứa, vâng dạ cho xong chuyện rồi chờ mãi chẳng thấy đâu. Chính những hành động mới quan trọng chứ không phải là ý định hay lời nói. Người ta có thể dùng đầu môi chót lưỡi để phỉnh lừa nhau…, nhưng chẳng ai dùng đầu môi chót lưỡi mà phỉnh lừa được Thiên Chúa: “Không phải bất cứ ai thưa với Thày: Lạy Chúa! Lạy Chúa! là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ những ai thi thành ý muốn của Cha Thày, Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi” (Mt 7,21).
Tuy nhiên nhìn vào thực tế, xem ra đời sống của chúng ta gần với người con thứ hai hơn là người con thứ nhất trong dụ ngôn. Chúng ta tiền hậu bất nhất, nói mà không làm, thề hứa mà không giữ, tin đạo mà không sống đạo.
Quả thật, nói mà không làm là tự vả vào mặt mình, tin đạo mà không sống đạo là bôi bác và nhạo báng Chúa: “Ai bảo rằng mình có đức tin mà không hành động theo đức tin, thì nào có ích lợi gì? Đức tin có thể cứu người ấy được chăng? Giả như có người anh em hay chị em không có cơm ăn áo mặc mà có người lại nói với họ: hãy đi bình an, mặc cho ấm, ăn cho no, nhưng lại không cung cấp cho họ những thứ thân xác họ đang cần thì nào có ích gì?
Cũng vậy, đức tin không có hành động quả là đức tin chết. Con người được trở nên công chính nhờ hành động theo đức tin, chứ không phải chỉ tin xuông mà thôi. Tổ phụ Abraham đã hành động theo đức tin, ông được kể là người công chính và là bạn của Thiên Chúa. Ra-kháp cô gái điếm cũng vậy, chính nhờ hành động đón tiếp và cứu giúp các sứ giả của Chúa mà cô được trở nên công chính. Thật thế, một thân xác không hơi thở là một thân xác chết, đức tin không có hành động là đức tin chết” (x. Gc 2,14-26).
Hành động theo đức tin, sống đức tin hay sống đạo là gì ? Là để cho đức tin hướng dẫn, chi phối, thanh luyện đời ta từ tư tưởng đến lời nói và việc làm khiến chúng luôn ăn khớp với nhau, nhằm biến tư tưởng xấu, lời nói xấu và việc làm xấu thành tư tưởng tốt, lời nói tốt và việc làm tốt.
Lạy Chúa, xin cho con biết thống nhất đời sống giữa lời nói và việc làm, giữa đi đạo và sống đạo. Amen
Lm Giuse Nguyễn Văn Hữu
SUY NIỆM 6: TỪ VƯỜN NHO ĐẾN CÁC TÁ ĐIỀN: HÃY LÀ CHÍNH MÌNH
Sau khi nghe câu chuyện dụ ngôn Chúa Giêsu kể về “những tá điền sát nhân”, các Thượng Tế và người Pharisêu hiểu là Người nói về họ và họ tìm cách bắt Người. Dân Chúa xưa, đặc biệt những người lãnh đạo, những người được gọi là đạo đức hẳn thuộc nằm lòng bài ca về vườn nho của Ngôn sứ Isaia (Is 5). Mẹ Hội Thánh lại trích cho chúng ta nghe trong bài đọc thứ nhất Chúa Nhật này. Trong khi Ngôn Sứ Isaia nhấn mạnh đến vườn nho là đoàn dân Chúa xưa, thì Chúa Giêsu lại nhấn mạnh đến những tá điền là những người lãnh đạo mà Chúa trao phó quản lý vườn nho. Dù là vườn nho hay là người quản lý thì điểm chung hướng đến, đó là: hãy trở nên chính mình. Nói nôm na là nho thì ra nho, quản lý thì ra quản lý.
Nho ra nho: Ngôn sứ Isaia đã minh nhiên nói rằng vườn nho chính là đoàn dân Chúa xưa và chúng ta có thể hiểu thêm mỗi người chúng ta là những cây nho, là những cành nho (x. Ga 15). Các khâu canh tác như làm cỏ, bón phân, tỉa cành sâu bệnh… thì chủ vườn nho là Thiên Chúa đã vuông tròn. Vấn đề còn lại là chính cây nho phải sinh hoa trái tốt tươi, ngọt ngào. Theo kinh nghiệm nông gia, khi đã đủ đầy các điều kiện tự nhiên và sự chăm bón thì chuyện sinh hoa kết trái của cây trồng, hệ tại ở khả năng cây “hấp thụ dinh dưỡng” từ đất, từ trời và hệ tại ở việc cây “giảm phát sinh để tăng phát dục”, nghĩa là giảm đâm cành, mọc lá mới để tăng ra hoa, kết trái.
Đề hấp thụ dinh dưởng từ trời đất thì chính chúng ta, những cây nho, tiên vàn phải gắn bó, kết hiệp với Thiên Chúa. Cầu nguyện là một trong những phương thế tuyệt hảo để kết hiệp với Thiên Chúa. Để gia tăng hoa trái tốt lành thì việc hãm mình hy sinh là điều không thể thiếu. Như thế để nho ra nho nghĩa là sinh hoa trái ngọt ngào thi Kitô hữu chúng ta cần chuyên chăm cầu nguyện và hy sinh hãm mình. Hằng năm cứ đến mùa Chay thánh thì đề tài ăn chay cầu nguyện được nhấn mạnh và chúng ta nghiệm thấy ngay các hoa trái trổ sinh.
Quản lý ra quản lý: Người quản lý là người được trao phó một sự gì đó. Một việc gì đó để bảo quản, giữ gìn, chăm nom và dĩ nhiên theo tiêu chí mà người chủ yêu cầu. Các tá điền trong câu chuyện dụ ngôn Chúa Giêsu kể được hiểu như là những người quản lý. Và tiêu chí người chủ đưa ra là đến kỳ thu hoạch, vườn nho phải sai hoa, mộng trái. Theo chiều kích xã hội thì những người quản lý là những người được giao phó các chức vụ của công quyền. Họ được trao phó đoàn dân của một tập thể, của một đất nước… Theo chiều kích tôn giáo, thì những người quản lý là những vị mục tử. Họ đuợc trao phó đoàn chiên là các tín hữu của tôn giáo mình. Dù là các mục tử trong Hội thánh này Hội thánh kia hay là những người nắm giữ công quyền trong xã hội thì chỉ một mình Thiên Chúa là người chủ duy nhất. Thánh Phaolô minh định điều này khi nói rằng các chính quyền hợp pháp đều là do Chúa đặt định (x.Rm 13,1)
Trong khoảng thời gian chờ đến mùa vụ, thì ông chủ thỉnh thoảng sai gia nhân của mình đến nhắc nhở những người quản lý về bổn phận và trách vụ của họ. Và bên cạnh đó chắc chắn có sự đánh giá về những gì mà những người quản lý đang thực thi. Tốt thì khen và khích lệ. Xấu thì chê và phê bình sửa sai. Trong lịch sử dân Chúa xưa, các ngôn sứ chính là những gia nhân mà ông chủ vườn nho đã sai đến. Thay vì nghe những ý chỉ của Thiên Chúa qua các sứ ngôn thì những người tá điền là nhưng người quản lý đã bách hại các ngài.
Thiên Chúa, người chủ vườn nho vẫn kiên trì nhẫn nại đến cùng. Người đã sai chính Con Một đến với hy vọng là những người quản lý kia sẽ nể mặt mà nghe theo. Thế nhưng sự tham lam đã làm cho tâm hồn những người quản lý thành ác độc. Họ đã nhẫn tâm giết chết Người Con Một của ông chủ. Tưởng rằng sẽ từ vị thế quản lý trở thành chủ nhân của vườn nho, nhưng họ đã lầm. Ông chủ sẽ tru di họ và trao vườn nho cho những người khác.
Câu chuyện dụ ngôn Chúa Giêsu kể đã làm chột dạ những vị lãnh đạo DoThái giáo thời bấy giờ. Chuyện dụ ngôn này cũng đã ứng với nhiều triều đại vua chúa các nước trên thế giới. Chuyện dụ ngôn này cũng ứng với những chính phủ nắm giữ công quyền của các quốc gia. Và chuyện dụ ngôn này cũng đáng làm cho các vị mục tử giật mình tự kiểm.
Nho ra nho, quản lý ra quản lý. Nếu không thực là mình thì sẽ đến lúc phải bị loại trừ. Cành nho nào sinh hoa trái sẽ được chăm bón để trái hoa xum xuê thêm nhiều. Cành nào không sinh trái thì phải bị chặt đi. Nó sẽ khô héo và người ta sẽ bỏ nó vào lửa mà thiêu đốt đi (x.Ga 15,6). Người quản lý nào chuyên chăm cứ đến giờ mà phân phát lúa thóc cho kẻ ăn, người ở, thì sẽ được ân thưởng khi chủ về. Trái lại viên quản lý nào chểnh mảng, mãi mê chơi bời ăn uống mà bỏ bê bổn phận, thậm chí còn hành xử bạo lực với người dưới quyền, thì sẽ bị chung số phận với quân bất lương, ở nơi phải khóc lóc và nghiến răng (x.Lc 12,41-48).
Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa
