CHÚA NHẬT LỄ CHÚA THÁNH THẦN HIỆN XUỐNG - NĂM A

Cv 2,1-11; 1Cr 12,3b-7.12-13; Ga 20,19-23

 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan

19Vào buổi chiều ngày thứ nhất trong tuần, những cửa nhà các môn đệ họp đều đóng kín, vì sợ người Do-thái, Chúa Giêsu hiện đến, đứng giữa các ông và nói rằng: "Bình an cho các con!" 20Khi nói điều đó, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn Người. Bấy giờ các môn đệ vui mừng vì xem thấy Chúa. 21Chúa Giêsu lại phán bảo các ông rằng: "Bình an cho các con! Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con". 22Nói thế rồi, Người thổi hơi và phán bảo các ông: "Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, 23các con tha tội cho ai, thì tội người ấyđược tha. Các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại".

 

SUY NIỆM 1:CHÚA THÁNH THẦN, CUỘC TẠO DỰNG MỚI

Lời Chúa:“Người thổi hơi và phán bảo các ông: các con hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20,22).

Nhập lễ:

Kính thưa cộng đoàn phụng vụ,

Hôm nay, hiệp cùng với toàn thể Giáo Hội chúng ta long trọng mừng Đại lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Phụng vụ Lời Chúa chúa nhật hôm nay diễn tả cho chúng ta thấy cuộc tạo dựng mới sau khi Chúa Giêsu Phục sinh. Người đã ban cho các môn đệ ơn bình an và Chúa Thánh Thần:

Bằng qua cái chết hồng ân,

Chúa đã đổi mới xác thân loài người.

Thánh Linh cải tạo khắp nơi,

Khác chi tạo dựng đất trời sơ khai.

Nhìn vào biến cố Si-nai,

Hay trong Tân ước, Thiên sai hoàn thành.

Hiệp dâng thánh lễ hôm nay, xin Chúa thổi vào tâm hồn chúng ta một luồng sinh khí mới, để chúng ta có tinh thần mới của Chúa Thánh Thần Thiên Chúa mà nhiệt thành loan báo Tin Mừng, sống dấn thân phục vụ Thiên Chúa và tha nhân. Trong tâm tình đó, giờ đây chúng ta thành tâm sám hối.

Sám hối:

X. Lạy Chúa, Chúa ban Thánh Thần để thánh hóa chúng con. Xin Chúa thương xót chúng con.

Đ. Xin Chúa thương xót chúng con.

X. Lạy Chúa Kitô, Chúa ban Thánh Thần để canh tân bộ mặt trái đất này. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.

Đ. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.

X. Lạy Chúa, Chúa ban Thánh Thần để Ngài thêm sức cho chúng con loan báo Tin Mừng cứu độ của Chúa. Xin Chúa thương xót chúng con.

Đ. Xin Chúa thương xót chúng con.

Kết: Xin Thiên Chúa toàn năng thương xót, tha tội và dẫn đưa chúng ta đến sự sống muôn đời.

CĐ: Amen

Suy niệm:

Kính thưa quý ông bà anh chị em,

Hôm nay cùng với toàn thể Hội thánh, chúng ta hân hoan mừng lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống. Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống kết thúc mùa phục sinh kéo dài 50 ngày kể từ biến cố Chúa Giêsu sống lại đến lễ Ngũ tuần hôm nay. Trong ngày lễ trọng đại này, chúng ta được Lời Chúa soi sáng nhận ra cuộc tạo dựng mới và một kỷ nguyên mới, khai mở một thời đại mới của Hội thánh Chúa Kitô: thời đại Chúa Thánh Thần.

Thưa anh chị em, biến cố Chúa Thánh Thần hiện xuống xảy ra trong ngày lễ Ngũ tuần, cùng với lễ Vượt qua và lễ ăn Bánh không men. Lễ Ngũ tuần có nguồn gốc xa xưa từ nhà nông: đây là lễ mừng công của nhà nông sau 50 ngày gặt bông lúa. Khi dân Do thái vào Đất hứa, lễ Ngũ tuần dần dần được mừng để kỷ niệm biến cố ký kết giao ước giữa Thiên Chúa và dân Do thái tại núi Sinai 50 ngày sau biến cố xuất hành thoát khỏi cảnh nô lệ người Ai cập. Vào năm đó, dân Do thái từ trong và ngoài nước hành hương về Giêrusalem để mừng lễ Ngũ tuần. Thánh Lua trong bài đọc 1 hôm nay, diễn tả biến cố Hiện xuống của Chúa Thánh Thần giống như trận gió to và như hình lưỡi lửa. Chính trong bối cảnh đó, Chúa Thánh Thần được ban xuống trên các tông đồ “như thể bằng lửa xuất hiện và rải rác đậu trên từng người. Hết thảy mọi người đều được tràn đầy Chúa Thánh Thần, và bắt đầu nói tiếng khác nhau tuỳ theo Thánh Thần ban cho họ nói”. Hôm ấy, dân chúng bỡ ngỡ vì ai nấy đều nghe các tông đồ nói tiếng bản xứ của mình. Những sự kiện này nhắc chúng ta nhớ đến biến cố tháp Babel; một dân tộc vì kêu ngạo mà bị phân tán thành các ngôn ngữ khác nhau khiến không ai hiểu ai. Giờ đây, nhờ Chúa Thánh Thần, mọi dân tộc đều hiểu được Tin mừng cứu rỗi trong ngôn ngữ của mình. Như thế, Chúa Thánh Thần kết hợp mọi dân tộc vốn chia rẽ nhau thành một cộng đoàn duy nhất là Hội thánh. Hội thánh được khai sinh vào ngày Hiện xuống. Bài Tin mừng hôm nay diễn tả cuộc tạo dựng mới sau khi Chúa Giêsu phục sinh và ban cho các tông đồ ơn bình an. Chúa Giêsu thổi hơi vào các tông đồ và nói: “Các con hãy nhận lấy Thánh Thần”. Đây là hơi thở sáng tạo của thuở ban đầu, biến đổi hoàn toàn con người cũ của các tông đồ. Để từ đây, dưới tác động mãnh liệt của Chúa Thánh Thần, các tông đồ ra đi khắp cùng thế giới để rao giảng và tha tội cho các tội nhân, kết hợp họ thành một cộng đoàn những người tin vào Chúa Kitô phục sinh. Chính tác động của Chúa Thánh Thần nối kết các tội nhân, sau khi tha tội cho họ, để làm nên một cộng đoàn những kẻ tin vào Chúa Kitô phục sinh.

Chuyện kể rằng, ngày 28 tháng 10 năm 1958, Đức hồng y Angelo Giuseppe Rollcali lên ngôi giáo hoàng lấy tước hiệu Gioan 23. Một ông lão không tiếng tăm lên lãnh đạo Giáo hội, nhiều người nghĩ rằng sẽ chẳng có gì mới với một ông lão gần đất xa trời. Thế nhưng, ông lão này đã làm nên một kỳ diệu được coi là lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống lần thứ hai khi ngài triệu tập công đồng Vaticano II để canh tân Hội thánh. 

Kính thưa quý ông bà anh chị em,

Mừng lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, mỗi người chúng ta hãy ý thức rằng: Chúa Thánh Thần đã được ban xuống cho các tông đồ như lời Chúa Giêsu đã hứa. Ngài là nguồn mạch mọi ân sủng và bình an. Ngài đến để hoàn tất chương trình cứu độ của Thiên Chúa và mở ra cuộc tạo dựng mới, một dân tộc mới là Hội thánh. Dân tộc mới này lãnh nhận những ơn sủng cần thiết và khác nhau tùy theo từng người, từng trường hợp nhưng cũng do một nguồn gốc chung duy nhất là Chúa Thánh Thần. Chính Chúa Thánh Thần làm nên mọi sự trong mọi người để quy tụ muôn dân vào trong Hội thánh của Chúa Kitô. Tất cả chúng ta được thanh tẩy làm nên một thân thể sống động của một Hội thánh Công giáo, Duy nhất, Thánh thiện và Tông truyền để cùng nhau tôn vinh Thiên Chúa. Chúng ta được mời gọi để sống cho Chúa bằng đời sống thánh thiện, và bằng đời sống chứng nhân trong sự hiệp nhất yêu thương. Do đó, mỗi khi phạm tội là mỗi lần chúng ta tự tắt mình khỏi Hội thánh duy nhất thánh thiện của Chúa Kitô.

Nguyện xin Chúa Thánh Thần ngự đến và nhóm lên trong tâm hồn chúng ta ngọn lửa tình yêu Chúa, đổi mới con người cũ của chúng ta nên sứ giả loan báo Tin mừng và ơn bình an của Chúa đến cho muôn người. Amen.

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Quang

 

SUY NIỆM 2: CHÚA THÁNH THẦN HIỆN XUỐNG KHAI MỞ "NHỮNG KÊNH TRUYỀN THÔNG" MỚI

Chúa Nhật tuần trước Lễ Thăng Thiên cũng là Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội. Giáo Hội khuyến khích người Công Giáo ở các quốc gia trên toàn cầu sử dụng tốt hơn các phương tiện truyền thông và các hình thức thông tin khác để chia sẻ Tin Mừng cho tất cả mọi người nam nữ.
 Sứ điệp Truyền thông năm nay nêu bật tầm quan trọng của các trang mạng xã hội như là "cổng thông tin của sự thật và đức tin", và là "không gian mới cho việc loan báo Tin Mừng".
Cuối năm ngoái, Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đã mở tài khoản Twitter Giáo hoàng đầu tiên. Ngài mời gọi mọi người công nhận tiềm năng của các mạng truyền thông xã hội và thúc giục các tín hữu trong Năm Đức Tin cân nhắc xem làm thế nào để sự hiện diện của mình trên các mạng có thể giúp truyền bá thông điệp Tin Mừng của tình yêu Thiên Chúa cho tất cả mọi người.
 Kể từ bản tweet đầu tiên do Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI gởi vào ngày 12/12/2012, hơn 6 triệu người đã theo dõi. Đức Thánh Cha Phanxicô tiếp tục sáng kiến đó, sử dụng các mạng lưới xã hội. Hiện nay tài khoản @Pontifex đăng các bản tweet bằng tiếng Anh, Tây Ban Nha, Ý, Bồ Đào Nha, Pháp, Đức, La Tinh, Ba Lan và Ả Rập. Con số bản tweet do Đức Giáo Hoàng Phanxicô gởi đi gia tăng rất nhanh. Đức Hồng Y Carlo Martini từng nói: "Kinh nghiệm của Lễ Hiện Xuống (Cv 2,3-13) chính là Tin Mừng truyền thông".

Truyền thông là làm cho con người có khả năng để nghe để hiểu, có khả năng để loan báo và có khả năng để chuyển thông một sứ điệp. Trong ngày Lễ Hiện Xuống, Chúa Thánh Thần đã khai thông mọi tương giao, phá vỡ bức tường đã bị đóng kín từ sự kiện tháp Babel. Truyền thông Tin Mừng chính là mang tin vui đến cho mọi người.

Năm Thánh 2000, Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận giảng tuần tĩnh tâm cho Giáo Triều Rôma, trong bài giảng "Hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần", ngài kể về tác động của Chúa Thánh Thần như một ân ban chuyển thông ánh sáng và niềm tin cho anh chị em người Hmong.
"Chúa Thánh Thần sống và hoạt động trong trái tim những kẻ nghèo nàn và khiêm hạ, trong tâm hồn đạo đức bình dân, trong tình liên đới, trong đau khổ. Ngài ở đó như trạng sư và thông dịch các ứớc muốn và lời cầu xin của chúng ta.

Tôi còn nhớ câu chuyện này.

Một ngày nọ, một cha sở miền Bắc Việt Nam thấy có một nhóm người dân tộc thiểu số Hmong muốn đến gặp ngài. Cha hỏi họ:

- Anh chị em từ đâu đến?

- Chúng con từ Lai Châu, (nơi quân đội Pháp đã thua trận Điện Biên Phủ năm 1954). Chúng con đã vượt núi rừng đi bộ suốt 6 ngày nay.

- Lạy Chúa tôi! Để làm gì vậy?

- Chúng con muốn được rửa tội ngay bây giờ.

- Không thể được! Không có một linh mục hay giáo lý viên nào cả trong vùng của anh chị em, anh chị em không biết gì về đạo hay kinh nguyện, thì làm sao chịu phép Rửa tội được.
- Chúng con đã học tất cả từ một đài phát thanh phát đi từ Phi luật tân.

- Mà đài phát thanh nào? Đâu có đài phát thanh Công giáo nào có chương trình bằng thổ ngữ của anh chị em đâu!"

- Đó là đài phát thanh "Chân Lý".

- Một đài phát thanh GH công Giáo, và bây giờ anh chị em lặn lội đến đây để xin trở thành Công giáo. Thật là điều lạ!

- Vị linh mục thật cảm kích bỗng thốt lên: Đây là một lễ Hiện Xuống mới. Đây chính là tác động của Chúa Thánh Thần! Chúa Thánh Thần!

Rồi cha lại hỏi nhóm người Hmong: Anh chị em có thể ở lại đây lâu hơn không?

- Thưa cha, không thể được. Chúng con chỉ đem theo 14 ngày cơm: 12 ngày đi đường và 2 ngày học hỏi và đọc kinh cầu nguyện.

Cả nhóm đã được rửa tội và chịu phép Thêm sức, rồi được dự Thánh lễ đầu tiên trong đời và được rước Mình Thánh Chúa.

- Anh chị em sẽ không có Thánh Lễ nào nữa, anh chị em không có nhà thờ. Anh chị em sẽ làm thế nào?

- Ban chiều tối, chúng con tụ họp nhau từng hai ba gia đình để nghe đài phát thanh và cầu nguyện chung và cùng nhau học hỏi về đạo. Ngày Chúa Nhật chúng con ra ruộng cày cấy, nhưng đúng 9 giờ 30,chúng con ngưng làm việc thả trâu tự do ăn cỏ và chúng con dự Thánh Lễ qua đài phát thanh Chân Lý phát từ Manila. Một Lễ Hiện Xuống mới của thế kỷ XX." (Chứng Nhân Hy Vọng, trang 235-237).

Hiến chế Tín lý về Mạc khải của CĐ Vaticanô II có nói: "Mạc Khải là việc Thiên Chúa 'Truyền Thông Chính Mình' cho nhân loại" (DV 6). Với biến cố Hiện Xuống, việc truyền thông của Thiên Chúa được hoàn tất nơi Đức Kitô và tiếp tục được nối dài trong Giáo Hội nhờ hoạt động của Chúa Thánh Thần. Lễ Hiện Xuống khai mở những "kênh truyền thông" mới. Vì thế, "Giáo Hội Công Giáo nhận thấy mình có bổn phận dùng các phương tiện truyền thông xã hội để loan báo ơn cứu độ và dạy con người biết sử dụng chúng cho đúng đắn" (Inter Mirifica, số 3). Chúa Thánh Thần là linh hồn Giáo Hội. Ngài tác động và canh tân Giáo Hội thực thi sứ vụ loan Tin Mừng: "Giáo Hội canh tân và thanh tẩy chính mình không bao giờ ngừng dưới hoạt động của Chúa Thánh Thần" (Vui mừng và Hy vọng, 21). Sách Công Vụ Tông Đồ đã minh chứng hùng hồn về điều ấy.

Suốt mùa Phục Sinh, các bài đọc 1 được trích trong sách Công Vụ Tông Đồ. Một nhà chú giải Thánh Kinh đã gợi hứng đổi Công Vụ Tông Đồ thành Công Vụ của Chúa Thánh Thần. Bốn sách Tin Mừng là Phúc Âm của Chúa Giêsu, còn Công Vụ Tông Đồ chính là Phúc Âm của Chúa Thánh Thần. Sách Công Vụ Tông Đồ là một trong những tài liệu lịch sử quý giá nhất của Thánh Kinh. Đó là lịch sử hiện hữu duy nhất của Kitô giáo được viết ra trước thế kỷ thứ III. Nhờ đó chúng ta biết rõ sự lớn dậy của Kitô giáo ở Palestina hay về công cuộc Truyền Giáo tại Syria, Tiểu Á, Hylạp và Rôma. Bình minh của một kỷ nguyên mới bắt đầu ló dạng.

Giáo Hội đã sống tuổi thanh xuân của mình giữa lòng Đế quốc Rôma. Giáo Hội đối diện với ba thách đố lớn là Do thái giáo, chính trị Rôma và triết học Hy lạp. Giáo Hội phải bung ra khỏi Do thái giáo, hội nhập vào triết học Hy lạp để lan rộng trên toàn đế quốc Rôma. Chỉ với những người dân chài Galilê ít học, chỉ với một Phaolô nhiệt thành, thế mà Giáo Hội lớn mạnh không ngừng trước bao thử thách thời đại. Chính Chúa Thánh Thần đã không ngừng dẫn dắt Giáo Hội. Đúng như lời Thánh Irênê đã nói: "Ở đâu có Thánh Linh của Đức Kitô ở đó có Hội Thánh. Ở đâu có Hội Thánh ở đó có Thánh linh và ân sủng".

Sách Công Vụ Tông Đồ trình bày lịch sử dưới ánh sáng đức tin. Sau khi Phó tế Stêphanô bị ném đá thì khởi đầu cuộc bắt bớ rộng lớn chống Giáo Hội ở Giêrusalem. Cộng đoàn Kitô hữu ở đây bị phân tán, nhiều tín hữu thoát khỏi đô thị đi tìm nơi ẩn náu. Họ đi tới đâu là rao giảng Tin Mừng tại đó. Chính đây là lúc câu nói thời danh của văn hào Tertuliano được ứng nghiệm "Máu các Thánh Tử Đạo là hạt giống làm nảy sinh các Kitô hữu".

Các cộng đoàn Diaspora được thành lập. Họ hội nhập vào văn hoá địa phương để rao giảng Tin Mừng.

Kinh nghiệm sống đức tin của cộng đoàn tín hữu sơ khai là bài học quý giá cho chúng ta. Họ bị nhận chìm trong gian truân thử thách, nhưng chính lúc ấy họ cảm nhận sự hiện diện và hoạt động mãnh liệt của Chúa Thánh Thần. Như ngọn gió cuốn bay những hạt giống để rồi hạt giống lại gieo mầm sống mới ở nơi khác, ngọn gió Chúa Thánh Thần qua những cơn bách hại cũng mang lại những hiệu qủa lạ lùng. Càng bị bách hại Giáo Hội càng lớn mạnh không ngừng.
 Đọc lại lịch sử Giáo Hội Việt Nam; sau sắc dụ cấm đạo của vua Cảnh Thịnh, các cuộc bắt đạo gay gắt khiến cho những người tín hữu ở các vùng Quảng Trị, Cổ Vưu, Thạch Hãn, Hạnh Hoa chạy vào rừng núi La Vang để trốn tránh. Đức Mẹ đã hiện ra an ủi, trợ giúp. La Vang đã trở thành trung tâm hành hương của Giáo Hội Việt Nam. Các chỉ dụ cấm đạo dưới thời vua Minh Mạng, Tự Đức đã phân tán các cộng đoàn Kitô hữu. Họ xuôi vào Nam trốn tránh, đến vùng đất mới, rừng thiêng nước độc. Họ khai khẩn điền địa và lập nên những cộng đoàn mới. Nhờ đó, khi các vị Thừa Sai đến Truyền Giáo, hạt giống Đức Tin được nảy mầm và phát triển nhanh chóng.
 Như hạt giống gieo xuống đất và chờ đợi, những cơn mưa đầu mùa tuôn đổ, hạt giống âm thầm đón nhận sức sống, nảy mầm, bén rễ, lớn nhanh. Những cộng đoàn tín hữu đang sống đức tin thầm lặng đã gặp được các chủ chăn nên lớn mạnh và nhiều giáo xứ đã được thành lập. Chỉ trong nhãn giới đức tin, chúng ta mới nhận ra sức tác động mãnh liệt Chúa Thánh Thần. Trong mọi thử thách, Giáo Hội luôn có Chúa Thánh Thần nâng đỡ. Trong mọi biến cố đau thương, Giáo Hội luôn có Chúa Thánh Thần an ủi dẫn dắt. Mỗi biến cố xảy đến trong cuộc đời đều là lời mời gọi, lời nhắn nhũ, lời cảnh báo. Đi tìm Thánh Ý Chúa, con người cần biết giải mã các biến cố ấy trong ánh sáng đức tin.

Ngày nay, có lẽ không còn những cơn bắt bớ và bách hại như xưa. Thế nhưng, những gian nan, những thử thách vẫn không thiếu trong đời sống đức tin. Thời đại hôm nay là thời đại xẻ núi lấp sông, vượt trùng dương, chinh phục không gian, xa lộ thông tin, kỹ thuật số, toàn cầu hoá... Nhưng xã hội hôm nay đang bị tục hoá với muôn ngàn cám dỗ ngọt ngào tinh vi của ma quỹ. Xã hội đang đánh mất chiều kích siêu hình, không còn cảm thức về tội lỗi. Giáo Hội phải đối diện với một xã hội mà như triết gia hiện sinh Jean Paul Sartre đã nói: "Thiên Chúa phải chết để cho con người được tự do". Người ta đang xây dựng một xã hội không có Thiên Chúa, tôn giáo bị tách ra khỏi xã hội. Con người mãi mê chạy theo lối sống hưởng thụ thực dụng, cá nhân chủ nghĩa.

Như thế người Kitô hữu phải sống và diễn tả niềm tin của mình như thế nào đây? Lời Chúa chiếu ánh sáng soi đường. Chúa Giêsu đã loan báo: "Đấng Phù Trợ là Thánh Thần, mà Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, chính Người sẽ dạy các con mọi điều, và sẽ nhắc nhở cho các con tất cả những gì Thầy đã nói với các con" (Ga 14, 26).

Khi được Chúa Thánh Thần đổ tràn ơn thiêng trong đời, chúng ta sẽ yêu mến Chúa, được Chúa Cha và Chúa Giêsu ngự đến trong tâm hồn (Ga 14,21), được Chúa ban sự bình an tuyệt vời, bình an không như thế gian ban tặng (Ga 14,27). Chúa Thánh Thần chính là chìa khoá mở ra cuộc sống mới trong Đức Kitô. Dưới tác động của Chúa Thánh Thần, chúng ta làm được mọi sự trong ân sủng Đức Kitô. Chúa Thánh Thần giúp chúng ta sống Tin Mừng, vượt qua các thách đố thời đại như cộng đoàn tín hữu sơ khai đã vượt qua mọi trở ngại để loan báo và mở rộng Nước Chúa.

Chúa Thánh Thần luôn bảo đảm cho sự nguyên vẹn của mạc khải. Ngài dẫn dắt Giáo Hội ngay giữa những kênh truyền thông mới mẻ của thế giới kỹ thuật số hôm nay. Môi trường này mang nơi mình ngôn ngữ thời đại, vì một thông điệp được phát đi từ nơi đây thường kèm theo hình ảnh và âm thanh. Điều này rất thuận lợi cho truyền thống của Kitô giáo, vốn mang rất nhiều yếu tố biểu tượng từ trong phụng vụ, kiến trúc nghệ thuật nơi các thánh đường, ảnh tượng thờ kính...Hơn nữa, Kitô giáo còn đi tiên phong trong các lãnh vực nghệ thuật, âm nhạc với mục đích diễn tả chân lý đức tin.

Kitô hữu phải là con người biết lắng nghe, lắng nghe Thiên Chúa và lắng nghe con người để qua sự hỗ trợ của các phương tiện truyền thông, sứ điệp Tin mừng được lan xa. Các phương tiện truyền thông xã hội như sách báo, phim ảnh, thi ca, nghệ thuật, sân khấu, tuồng kịch, thánh nhạc, kiến trúc, hội họa, truyền thanh, truyền hình, internet...đều có tầm ảnh hưởng lớn đối với công cuộc truyền thông Tin Mừng trong thời đại hôm nay.

Giáo Hội luôn thao thức những vấn đề của thời đại mình đang sống. Chúa Thánh Thần là ngọn gió thổi các cánh buồm của Giáo Hội hướng đến đại dương của "nền văn hóa mới" này. Có Chúa Thánh Thần đồng hành và hướng dẫn, chúng ta trở nên những chứng nhân của Chúa Giêsu đem Tin Mừng đến khắp muôn nước muôn dân.

Ở đâu có Thần Khí, ở đó bừng lên niềm vui. Mùa xuân làm cho vạn vật bừng dậy màu xanh sự sống. Thần Khí làm cho mọi tâm hồn tràn đầy sức sống mới. Gioan Tẩy Giả "nhảy mừng trong lòng mẹ". Đức Maria hát lên bài ca Magnificat. Các Mục đồng hớn hở đi Bêlem. CácTông Đồ trở nên những con người mới. Các Thánh Tử Đạo hiên ngang tiến ra pháp trường. Và chúng ta cũng được trở nên con cái Thiên Chúa, sống chứng nhân cho tình yêu, can đảm loan báo Tin Mừng Phục Sinh trên mọi nẻo đường phục vụ.

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

 


SUY NIỆM 3: “TÔI TIN HỘI THÁNH DUY NHẤT, THÁNH THIỆN, CÔNG GIÁO VÀ TÔNG TRUYỀN”

 

Trước khi về trời, Chúa Giêsu đã sai các môn đệ đi giảng dạy và làm phép rửa cho muôn dân. Để giúp họ chu toàn sứ vụ loan báo Tin Mừng cứu độ, sứ vụ của chính Giáo hội, Người đã ban cho họ Thánh Thần như Người đã hứa. Lịch sử của Giáo hội khởi đầu từ đây: từ một nhóm người Galilê đang sợ hãi, nghi ngờ, bối rối, sức mạnh của Chúa Thánh Thần đã làm cho họ trở thành những chứng nhân can đảm, kiên cường, bất chấp gian nguy, ngay cả mạng sống của mình để Tin Mừng Chúa được loan báo trên khắp hoàn cầu, để Danh Chúa được truyền tụng cho mọi người, mọi dân tộc và mọi thời đại.

Như thế, Giáo hội được khai sinh vào ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống. Bài tường thuật của thánh Luca về lễ Ngũ Tuần mà chúng ta nghe trong bài đọc thứ nhất mang nhiều ý nghĩa tượng trưng sâu sắc. Trước tiên, lễ Ngũ Tuần là lễ tưởng niệm việc Thiên Chúa ban bố lề Luật và thiết lập giao ước Xi-nai với dân Người. Nói cách khác, đây là lễ của người Do Thái mừng việc thành lập dân Israel.

Ở đây, ta thấy rõ mối liên hệ giữa ý nghĩa của lễ này với việc thành lập Dân mới của Chúa dưới tác động của Chúa Thánh Thần. Tác động của Ngôi Ba Thiên Chúa được thể hiện rõ ràng qua gió và lửa, là hai dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa trong Kinh Thánh. Tiếp đó, đám đông người quy tụ lại, dù ngôn ngữ bất đồng, họ vẫn hiểu những gì các Tông Đồ nói. Điều này nhấn mạnh đến lời mời gọi tất cả các dân tộc, không phân biệt ngôn ngữ, mầu da hoặc giai cấp, mọi người đều được Thiên Chúa mời gọi gia nhập Dân Chúa, cùng hiệp nhất trong Chúa Thánh Thần.

Vì thế, vào ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống, Giáo hội đã rời một nơi nhỏ để được phóng vào quỹ đạo của lịch sử nhân loại, giống như một đứa trẻ từ lòng mẹ được sinh ra cho cuộc phiêu lưu vĩ đại của sự sống và tình yêu. Và cuộc phiêu lưu này chưa kết thúc, vì hôm nay chúng ta vẫn đang trong cuộc phiêu lưu này.

Chúng ta nói về Giáo hội, nhưng đó là Giáo hội nào? Ngày nay, ngày càng có nhiều người Công giáo cảm thấy không thoải mái trong Giáo hội. Họ nói: “Tôi tin Chúa Giêsu, nhưng tôi không tin Giáo hội!” Vì thế chúng ta dành ít phút để tìm hiểu bốn đặc tính của Giáo hội mà chúng ta tuyên xưng mỗi khi đọc Kinh Tin Kính: “Tôi tin Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền”.

- Trước tiên, Giáo hội duy nhất. Trong bài đọc II, thánh Phaolô nói với chúng ta rằng chỉ có một Giáo hội là “thân thể của Chúa Kitô”. Nhưng Giáo hHHCDSDội không đồng hóa tất cả và đơn điệu. Ngay ngày đầu tiên của Giáo hội, Chúa Thánh Thần đã cho chúng ta hiểu biết điều này. Người không loại bỏ sự đa dạng bao la của các ngôn ngữ và các nền văn hóa. Thật phong phú trong sự đa dạng! Sự hiệp nhất của Giáo hội là hiệp nhất trong niềm tin vào Chúa Kitô phục sinh. Nhưng còn rất nhiều việc phải làm và rất nhiều cố gắng phải có để tôn trọng sự đa dạng này trong sự hiệp nhất và sự hiệp thông!

- Thứ hai, Giáo hội thánh thiện. Sự thánh thiện ở đây không phải là không có tội lỗi hay không tì vết. Giáo hội thánh thiện, trước hết vì Giáo hội là thân thể của Chúa Giêsu, Đấng là Đầu của thân thể, Người là Đấng Thánh. Giáo hội thánh thiện, hay nói đúng hơn là Giáo hội được thánh hóa, bởi vì Giáo hội là một phần của nhân loại chấp nhận trở thành, ngày qua ngày, nơi Chúa Cha và Chúa Con, nhờ Chúa Thánh Thần đến cư ngụ giữa loài người. Sự thánh thiện của Giáo hội không phải vì xóa bỏ những giới hạn và tội lỗi của các thành viên, ngay cả khi một số thành viên được mang tước hiệu “Đức Cha”, “Đức Ông” hay “Đức Thánh Cha”! Nhưng Giáo hội là nơi con người cảm nhận tình yêu của Chúa thể hiện qua lòng thương xót.

- Thứ ba, Giáo hội công giáo. Đặc tính này của Giáo Hội rất dễ bị hiểu sai. Do sự lớn mạnh của Giáo Hội ở Phương Tây trong nhiều thế kỷ, nên khi nói “Giáo hội công giáo”, người ta nghĩ rằng đó là “Giáo hội Tây Phương”, “Giáo hội La Mã”. Nhưng đặc tính “công giáo” của Giáo Hội có nghĩa là “phổ quát”. Giáo hội là “công giáo” bởi vì Chúa Giêsu đã sai các Tông đồ làm “chứng nhân của Người cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8). Giáo hội không có biên giới, và vì thế không cần phải có “nhân viên hải quan” để kiểm soát chặt chẽ các thành viên của mình cũng như những người muốn vào trong Giáo hội. Một lần nữa, vẫn còn nhiều việc phải làm và rất nhiều cố gắng phải thực hiện nhằm loại bỏ mọi rào cản để Tin Mừng của Chúa đến được với hết mọi người!

- Thứ tư, Giáo hội tông truyền. Giáo hội bắt nguồn từ đức tin và chứng tá của các Tông đồ. Giáo hội phải không ngừng đến uống tại nguồn này là để gìn giữ và luôn trung thành với đức tin tinh tuyền và các giáo huấn mà các ngài đã được lãnh nhận từ Chúa Giêsu,là Đấng luôn hiện diện với con người hôm nay, và để làm dân của Chúa. Theo bước các Tông đồ, mọi Kitô hữu đều là “tông đồ”, nghĩa là được sai đi để làm chứng nhân cho tình yêu của Thiên Chúa đối với mọi người.

Mỗi người chúng ta có bổn phận tiếp tục xây dựng một Giáo hội hiệp nhất trong sự đa dạng. Qua bí tích Thánh Tẩy, chúng ta đã được lãnh nhận Chúa Thánh Thần, Đấng làm cho chúng ta trở nên con cái Thiên Chúa và hiệp nhất trong Giáo hội là nhiệm thể của Chúa Kitô, như Thánh Phaolô đã nhắc nhở chúng ta trong bài đọc II. Nếu chúng ta để Chúa Thánh Thần hoạt động trong chúng ta, chúng ta sẽ là một Giáo hội cởi mở, ân cần và khoan dung. Mỗi người chúng ta sẽ có lòng nhân từ cao cả đối với tất cả những người mà Chúa cho chúng ta gặp gỡ trong cuộc đời mình, trong môi trường sống và làm việc của chúng ta cũng như trong giáo xứ, cộng đoàn của chúng ta. Amen.

Lm. Giuse Vũ Thái Hòa

 

SUY NIỆM 4: HÃY NHẬN LẤY THÁNH THẦN

 

Có người bảo Chúa Thánh Thần là Ngôi Vị hay bị quên lãng.

Người ta hay cầu xin Ngài vào đầu các cuộc gặp gỡ hội họp,

nhưng sau đó chẳng ai còn nhớ đến Ngài nữa.

Thật ra Chúa Thánh Thần ở gần ta hơn ta nghĩ rất nhiều,

đến độ nếu không có Thánh Thần

thì chẳng có Kitô giáo, cũng chẳng có Kitô hữu.

Đời Kitô hữu tràn ngập sự hiện diện của Thánh Thần,

Đấng không có khuôn mặt hữu hình như Đức Giêsu,

nhưng các hoạt động của Ngài thì có thể thấy được.

Dần dần Hội Thánh sơ khai nhận ra rằng

Thánh Thần không chỉ là một quyền năng từ trên cao,

mà còn là một Đấng, một Ngôi Vị thần linh như Cha và Con.

Ngài còn được gọi là Thần Khí, là Đấng Bảo Trợ.

Trong Kinh Tin Kính, chúng ta tuyên xưng Thánh Thần là Chúa,

và là Đấng ban sự sống, đồng hàng với Chúa Cha và Chúa Con.

Chúa Thánh Thần là Đấng ban sự sống.

Nước là nguồn mạch đem lại sự sống,

nên Đức Giêsu ví Thánh Thần với mạch nước vọt lên,

mạch nước đem lại sự sống đời đời (Ga 4,14).

Ai tin vào Ngài sẽ lãnh nhận Thần Khí

như những dòng sông đầy tràn nước hằng sống (Ga 7,38-39).

Hơi thở là dấu hiệu của sự sống.

Đức Giêsu phục sinh đã trao ban Thánh Thần cho các môn đệ

bằng cách thổi hơi thở của mình trên các ông (Ga 20,22).

Nhận hơi thở là nhận sự sống mới của Đấng phục sinh.

Chúa Thánh Thần là Đấng ban sự sống.

Ngài hiện diện và hoạt động trong mọi Bí tích.

Khi lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy,

ta được tái sinh trong nước và Thánh Thần (Ga 3,5),

được rửa tội nhân danh Thánh Thần để thành thụ tạo mới.

Khi lãnh nhận Bí tích Thêm sức,

ta nhận được ấn tín của Chúa Thánh Thần,

và được sai đi làm chứng cho toàn thế giới (Cv 1,8). 

Khi lãnh nhận Bí tích Hòa giải,

ta được tha tội nhờ quyền năng của Thánh Thần (Ga 20,22-23).

Khi linh mục cử hành Bí tích Thánh Thể,

trước khi đọc lời truyền phép trên bánh và rượu,

linh mục cầu xin Chúa Cha sai Thánh Thần đến trên lễ vật

để biến đổi lễ vật thành Mình và Máu Chúa Giêsu.

Lời Chúa mà ta đọc và nghe trong Thánh Lễ

là Lời đã được linh hứng bởi Chúa Thánh Thần (MK 12),

Lời sẽ được rao giảng nhờ Thánh Thần soi sáng (MK 9).

Đức Giêsu nhận mình là Đấng ban sự sống (Ga 5,21; 17,2).

Khi về với Cha, Ngài ban Thánh Thần là Đấng ban sự sống,

Đấng sẽ ở với, ở bên và ở trong ta mãi mãi (Ga 14,16-17).

Thân xác chúng ta là chi thể của Đức Kitô (1 Cr 6,15),

và cũng là Đền Thờ của Thánh Thần (1 Cr 6,19).

Thánh Thần là Thầy giúp ta nhớ lại giáo huấn của Đức Giêsu,

và dẫn ta tới sự thật toàn vẹn và trọn vẹn (Ga 14,26; 16,13).

Thánh Thần là vị Thầy dạy chúng ta cầu nguyện

và gọi Thiên Chúa là Abba, Cha ơi ! (Rm 8,15; Gl 4,4).

Thánh Thần vừa ban nhiều ơn cho mỗi người (1 Cr 12,4-11).

vừa hiệp nhất mọi người thành một thân thể (1 Cr 12,13).

Không thể nào có một Hội Thánh mà không có Thánh Thần.

Thánh Thần là “linh hồn” của Hội Thánh.

Kinh Sáng Danh cổ xưa nhất là: “Sáng danh Đức Chúa Cha,

nhờ Đức Chúa Con, và trong Chúa Thánh Thần.”

Kitô hữu là người sống trong Thánh Thần của Đức Giêsu.

Dù chúng ta đã lãnh bí tích Thánh Tẩy và Thêm Sức,

nhưng chúng ta vẫn phải luôn cầu xin Cha trên trời

ban cho ta Thánh Thần mỗi ngày (Lc 11,13).

Càng để cho Thánh Thần tự do hoạt động trong cuộc sống,

cây đời của chúng ta càng sinh hoa trái tốt tươi (Gl 5,22-23).

Lạy Cha, xin ban cho chúng con Thánh Thần.

Vì không có Thánh Thần,

Cha sẽ là Đấng nghìn trùng xa cách,

Đức Kitô trở thành nhân vật của quá khứ,

Sách Tin Mừng là mớ chữ vô hồn,

Hội Thánh chẳng khác nào một tổ chức trần thế.

Vì không có Thánh Thần của Cha,

quyền uy trở thành sức mạnh thống trị,

truyền giáo trở thành tuyên truyền,

việc phụng tự trở thành một thứ lễ bái,

cách hành xử của kitô hữu thành thứ đạo đức của nô lệ.

Nhưng nếu có Thánh Thần,

vũ trụ này được nâng lên,

những quặn đau để sinh ra Nước Cha mang ý nghĩa,

Đức Kitô phục sinh thật sự hiện diện,

Tin Mừng thành sức sống vô bờ,

Hội Thánh có nghĩa là hiệp thông.

Nếu có Thánh Thần của Cha,

quyền uy của Hội Thánh là khí cụ phục vụ,

truyền giáo trở thành một lễ Hiện Xuống mới,

phụng vụ là một tưởng niệm và là một thực tại,

các hành động của con người mang tính thần linh.

Lạy Cha, xin ban Thánh Thần cho chúng con.

(dựa theo Đức Thượng phụ Athenagoras)

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu. SJ

 

SUY NIỆM 5:  THÁNH THẦN HIỆP NHẤT YÊU THƯƠNG

Đúng năm mươi ngày sau Lễ Chúa Giêsu Phục Sinh, Giáo hội long trọng mừng Lễ Chúa Thánh Thần Hiện xuống, Đấng đã đến để đốt lên lửa mến yêu và truyền ban lòng can đảm loan báo Tin Mừng cho các môn đệ.

Không hiểu sao tuy đã được chứng kiến tận mắt Chúa Phục Sinh, được đàm đạo và ăn uống với Ngài, được nghe tận tai lời sai bảo làm nhân chứng cho Nước trời, ấy thế mà các người theo Chúa vẫn lo sợ. Chỉ biết cửa đóng then cài. Mãi cho đến một hôm, đang lúc họ hội nhau đông đủ trên phòng kín, thì bỗng từ trời có cơn gió mạnh. Tiếng rào rào như thể cuồng phong. Và lập tức, một quang cảnh kỳ lạ diễn ra: những lưỡi lửa xuất hiện, đậu trên từng người. Kết quả là ai nấy đều được tràn đầy Chúa Thánh Thần.

Hiện tượng gió thổi trong ngày lễ Hiện xuống nhắc lại sự việc "khí thần bay là trên mặt nước" trong sách Sáng Thế Ký; bên cạnh đó, hình ảnh các tông đồ đầy tràn thần khí cũng gợi lên hình ảnh con người đầu tiên được thổi vào mình đầy hơi sự sống. Như thế, biến cố Hiện xuống đã trở nên một cuộc tạo thành mới, với Thánh Thần Thiên Chúa được thổi vào thế giới để khai sinh một nhiệm thể sống động là Giáo hội của Đức Kitô.

Bằng việc loan báo Tin Mừng, khởi đi từ các thánh tông đồ, một thời đại mới đã khởi đầu. Đó là thời đại mà Giáo hội được hướng dẫn và thánh hoá dưới tác động của Ngôi Ba Thiên Chúa.
 Đặc sủng loan báo Tin Mừng được Chúa Thánh Thần ban xuống qua hình lưỡi lửa đậu trên đầu các tông đồ. Hình lửa này tượng trưng cho sự hiện diện đầy quyền năng của Thiên Chúa, như xưa kia Moisen đã tiếp cận sự hiện diện thần linh qua ngọn lửa cháy nơi bụi gai (Xh 3).
Ngay sau khi tiếp nhận ơn Chúa Thánh Thần, như lời tường thuật của Luca trong sách Tông Đồ Công Vụ, các môn đệ đã thay đổi thái độ sống. Họ mở tung cánh cửa của rụt rè nhát đảm. Họ mạnh bạo cất tiếng nói. Tiếng nói đã phát ra từ miệng lưỡi của những con người đánh cá quê mùa, thất học. Nhưng tiếng nói ấy đã được dân chúng từ 13 vùng đất--đại diện cho các dân tộc từ bắc chí nam, từ đông sang tây--nghe và hiểu. Tất cả đều là nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần.
 Ngày xưa, khi lòng dạ con người kiêu căng ngạo mạn với trời, đ¨°i xây tháp Baben để lên đương đầu với Thiên Chúa, tiếng nói của họ, tuy là anh em một nhà, đã trở nên bất đồng. Mầm mống rối loạn, mơ hồ, kình địch, và phân ly đã nảy sinh. Người ta không còn hiểu nhau. Kết quả là phân tán. Ngày nay, Thần Khí đã xuống để qui tụ con cái từ muôn nước về cùng một mối, giúp họ hiểu nhau trong cùng một thứ ngôn ngữ là tình yêu và vinh quang của Thiên Chúa.
 Theo niềm tin Kitô giáo, Thánh Thần là sức mạnh của yêu thương mà qua đó Chúa Cha đã trao ban trọn vẹn chính mình cho Chúa Con. Chúa Con đón nhận trọn vẹn sự sống từ nơi Cha, và rồi trong tình yêu của Thánh Thần, Ngài đã dâng lại trọn vẹn cho Cha. Như thế, Chúa Thánh Thần chính là Tình Yêu Hiệp Thông trong Thiên Chúa Ba Ngôi. Ngài cũng chính là nguồn ơn thông hiệp mọi tâm hồn trong cùng một niềm tin vào Đức Giêsu.

Như lời Thánh Phaolô khẳng định: "Trong Thần Khí độc nhất, hết thảy chúng ta nhờ thanh tẩy mà được nhập vào Thân Mình độc nhất..., và hết thảy đều đã được cùng uống một Thần Khí độc nhất" (1 Cor 12:13). Như thế, những hành vi, thái độ hay lời nói gây nên phân rẽ, rối loạn trong lòng Giáo hội đều tương phản với đường lối của Thánh Thần.

Thần Khí độc nhất liên kết mọi thành phần Kitô hữu chính là Thần khí thương yêu. Vì chỉ có yêu thương mới có nên một. Có yêu thương mới có the đạt đến việc cùng nhau thông hiệp trọn vẹn trong Thiên Chúa. Thánh Gioan đã nhấn mạnh: "Nếu ta yêu mến nhau, thì Thiên Chúa mới lưu lại trong ta. Nơi điều này mà ta biết là mình lưu lại trong Người và Người ở trong ta, đó là Thánh Thần mà Người đã ban cho ta" (1 Ga 4:13-14).

Thánh Phaolô cũng cùng một niềm xác tín: "Lòng mến của Thiên Chúa đã được đổ xuống lòng ta nhờ bởi Thánh Thần Người đã ban cho ta" (Rm 5:5).

Như thế, nhờ Thánh Thần mà ta có thể cất bước trên lối đường thương yêu, đi vào sự nên một với tha nhân trong Đức Kitô. Lắm khi người ta hay than trách: "không thể nào yêu nổi con người ấy." Có phải vì họ đã tận tâm tận lực nhưng không thành, hay vì chưa có Thần Khí Yêu Thương tác động và đỡ nâng?

Chỉ cần một luồng gió của ngày lễ Ngũ Tuần thổi qua, con người sẽ có dư can đảm mở tung cánh cửa tâm hồn để đến với anh chị em. Chỉ cần một đốm lửa của ơn Thánh Thần, bạn và tôi sẽ có đủ sức mạnh để công bố Tin Mừng Yêu Thương cho mọi người chung quanh.
 Nhưng vấn đề là người ta có biết cùng nhau tề tựu để cầu nguyện như các tông đồ ngày xưa hay không. Thế nên để kiến tạo hiệp nhất và xây đắp tình yêu, con người cần phải cùng nhau ngồi xuống cầu nguyện.

Lm. Phêrô Bùi Quang Tuấn

 

 SUY NIỆM 6: THỜI KỲ ÂN ĐIỂN CỦA THẦN KHÍ

Khi tổng thống Washington lên cầm quyền, vào thời điểm nước Mỹ mới được thành lập, ông và 55 nhà ái quốc đã nhóm họp tại Philadelphia để soạn thảo bản hiến pháp đầu tiên cho quốc gia này. Sau bốn tuần làm việc cật lực, họ vẫn không đạt được kết qủa nào vì có qúa nhiều ý kiến bất đồng, thậm chí đối kháng lẫn nhau. Mọi người toan tính bỏ cuộc. Một nghị viên tên là Benjamin Franklin đứng lên phát biểu: “Thưa Ngài Tổng thống và thưa toàn thể hội nghị, sức lực và trí tuệ của con người rất giới hạn và mong manh, cụ thể sau một tháng làm việc chúng ta vẫn chưa gặt hái được thành quả nào vì đầu óc chúng ta quá tăm tối. Vậy tôi đề nghị, chúng ta phải xin ơn trên soi sáng để có thể tiếp tục công việc”. Ý kiến trên được mọi người chấp nhận. Từ ngày hôm ấy trước mỗi phiên họp, các nghị viên đều đứng lên cung kính cầu nguyện để xin Chúa Thánh Thần soi dẫn. Chẳng bao lâu sau, nước Mỹ đã có được một bản hiến pháp lịch sử mà các sử gia vẫn xem đó là công trình vĩ đại nhất của nứớc Mỹ, được hoàn thành bởi ơn trên cùng với sự cộng tác của con người. Bản hiến pháp ấy đã trở thành quy chuẩn để nhiều quốc gia khác trên thế giới soi chiếu và noi theo. Người ta cho in hàng chữ ‘Chúng tôi tín thác vào Thiên Chúa’ (In God we trust) trên tờ Đôla Mỹ để ghi nhớ biến cố này. Qủa thật, nếu không mở lòng cho Thánh Thần tác động, chúng ta sẽ không làm được bất cứ công việc gì.
 
Chúa Thánh Thần là ai?

Trong kinh Tin kính chúng ta vẫn tuyên xưng: “Tôi tin Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa và là Đấng ban sự sống. Người bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con mà ra. Người được phụng thờ và tôn vinh cùng với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con. Người đã dùng các tiên tri mà phán dạy”. Đó là 4 tín điều căn bản của giáo lý Công giáo về Chúa Thánh Thần mà phụng vụ hôm nay gợi nhắc.
Tuy nhiên, khi chúng ta đặt câu hỏi Chúa Thánh Thần là ai, chúng ta dễ rơi vào tâm trạng giống như dân Ephêsô ngày xưa khi họ trả lời thánh Phaolô: “Thưa ông, ngay cả việc có Chúa Thánh Thần hay không, chúng tôi còn chưa biết đến”(Cv 19,2). Kinh thánh nói khá nhiều về Thần khí của Thiên Chúa với nhiều biểu tuợng, nhưng chúng ta không thể hình dung Chúa Thánh Thần qua một hình ảnh hay qua một danh xưng. Nhà thần học Simeon vẫn hướng về Chúa Thánh Thần với lời cầu nguyện: “Xin hãy đến, lạy Đấng mà chúng con không hiểu được, cũng không biết được”. Đấng mà chúng ta không hiểu, không biết, nhưng với cảm thức đức tin, chúng ta vẫn có thể trải nghiệm được sự hiện diện và tác động của Ngài tận thâm sâu trong cõi lòng mỗi người.
 Vì thế, nói về Chúa Thánh Thần không phải là một điều giản đơn hay chúng ta có thể tự nghĩ ra. Chúa Giêsu đã từng nói với Nicôđêmô: “Gió muốn thổi đâu thì thổi. Ông nghe tiếng gió nhưng không biết gió từ đâu đến và đi đâu (Ga 3,8)”. Thánh Thần là Đấng mà chúng ta không thể nhốt kín trong một phạm trù cứng ngắc, hoặc trình bày Ngài như một khái niệm xơ cứng. Chúng ta cảm nhận sự hiện diện của Ngài bằng đức tin, đồng thời chúng ta suy tư về Chúa Thánh Thần dựa trên Kinh thánh và những giáo huấn của Giáo hội. Tóm lại, để trả lời câu hỏi Chúa Thánh Thần là ai, chúng ta có thể trích mượn tư tưởng của thần học gia Jacques Guillet: “Người ta không thể thông hiểu về Chúa Thánh Thần như hiểu biết về Chúa Cha và Chúa con. Thánh Thần không có dung mạo cũng chẳng có danh xưng. Chúng ta không thể đặt mình trước Chúa Thánh Thần để cầu nguyện hay chiêm ngắm Ngài, theo dõi các hành động của Ngài. Nhưng chúng ta vẫn có thể cảm thấu sự hiện diện của Chúa Thánh Thần như Chúa Giêsu đã từng nói với các môn đệ năm xưa: “Anh em sẽ nhận biết Ngài vì Ngài ở trong anh em” (Ga 14,17).
 Những biểu tượng về Chúa Thánh Thần.

Biểu tượng mà Kinh thánh sử dụng nhiều nhất để nói về Thần Khí,

Gió hay hơi thở, diễn tả qua hạn từ ‘Spiritus Sanctus’ trong tiếng Latinh, ‘Holy Spirit’ trong tiếng Anh, ‘Pneuma’ trong tiếng Hy Lạp, và tiếng Do Thái gọi là ‘Ruah’. Chính Chúa Giêsu cũng đã dùng biểu tượng này khi nói với Nicôđêmô: “Gió muốn thổi đâu thì thổi, ông nghe tiếng gió và không biết gió từ đâu đến”. Trong sách Tông đồ công vụ, lễ Hiện xuống (Pentecost) được khởi đầu với một làn gió mạnh thổi vào căn nhà nơi các Tông Đồ đang tụ họp. Khi sống lại, Chúa Giêsu cũng thổi hơi trên các môn đệ, trao ban bình an và tuôn đổ Thần Khí trên các ông (Ga 20,22). Ngay từ đầu sách khởi nguyên, tác giả cũng đã trình thuật về công trình tạo dựng qua đó Đức Chúa Giavê thổi hơi ban sinh khí vào ‘nắm đất’ để dựng nên con người (St 2,7). Đó là những đặc nét và biểu tượng nói về Thần Khí, Đấng tác sinh và ban sự sống.
 Biểu tượng thứ 2 nói về Chúa Thánhh Thần là mạch nước. Trong thị kiến của tiên tri Ezekiel, dòng nước chảy từ bên phải đền thờ phát sinh sự sống tiên báo về thời kỳ ân điển của Thần Khí (Ez 47). Cũng vậy, trong Tin mừng Gioan, Chúa nói với người phụ nữ Samaria bên bờ giếng Giacóp về nguồn nước sự sống phát nguyên từ nơi Ngài, là chính Thần Khí của đấng Phục sinh, đem lại cho con người ơn cứu rỗi (Ga 4,13). Rõ nét nhất, Tin mừng Gioan thuật lại cho chúng ta: “Vào cuối cuộc lễ, Đức Giêsu đứng dậy và hô lớn tiếng: “Ai khát hãy đến với tôi, ai tin vào Tôi hãy đến mà uống... Đức Giêsu muốn nói về Thần khí mà những kẻ tin vào Ngài sẽ lãnh nhận. (Ga 7,37-38).

Kế đến là biểu tượng ngọn lửa. Sách Tông đồ Công vụ thuật lại bối cảnh lễ Hiện xuống đầu tiên với hình lưỡi lửa đậu xuống trên các tông đồ (Cv 2,3). Lửa có sức đốt cháy những vẩn đục và rác rưởi của tội lỗi để biến đổi tâm can con người. Chúa Giêsu cũng đã từng tuyên bố: “Thầy đem lửa từ trời đến thế gian, và Thầy ước mong cho ngọn lửa ấy bùng lên”. Thánh Phaolô cũng khuyến mời giáo đoàn Thesalonica: “Anh em đừng dập tắt Thánh Thần (1Th 5,14). Hai môn đệ trên đường về làng quê Emmaus khi nghe Chúa Giêsu cắt nghĩa Kinh thánh, đã cảm thấy như một ngọn lửa đang bừng cháy nơi tâm hồn mình (Lc 24,32). Đó là dấu chứng về sự tác động của Thần Khí.

Ngoài 3 biểu tượng nói trên, chúng ta còn thấy khá nhiều biểu tượng khác trong Kinh thánh ám chỉ về Chúa Thánh Thần, như chim bồ câu hoặc như việc xức dầu thánh hiến. Kinh thánh dùng những biểu tượng trên để nói về Ngôi Ba Thiên Chúa, là ngôi vị không có hình thể, không có danh xưng nhưng chắc chắn chúng ta có thể cảm nghiệm sự tác động nhiệm mầu của Ngài trong đời sống đức tin của chúng ta.

Kết luận

Tuần trước chúng ta mừng kính việc Chúa về trời, vừa hữu hình vừa vô hình. Tin mừng Gioan liên kết các sự kiện thành một mầu nhiệm duy nhất: Chúa sống lại đi vào trong vinh quang với Chúa Cha, và trao ban Thánh thần để Ngài tiếp tục hiện diện giữa Hội thánh. Cũng vậy, tuần này chúng ta cũng mừng kính việc Chúa Thánh Thần hiện xuống, vừa hữu hình vừa vô hình, là cao điểm của mầu nhiệm Phục sinh. Thánh Phaolô trong thơ gửi giáo đoàn Rôma đã viết: “Hướng đi của Thánh Thần là bình an và hoan lạc (Rm 8,6)”. Khi chúng ta có bình an và niềm vui thực sự trong tâm hồn, chúng ta thực sự đang sở đắc Chúa Thánh Thần. Ngài chính là nguyên lý của bình an và hạnh phúc. Chúng ta hãy xin Chúa Thánh Thần đến trong tâm hồn chúng ta mỗi ngày.
Lm. G.B. Trần Văn Hào