CHÚA NHẬT 4 MÙA CHAY - A
1Sm 16, 1.6-7.10-13; Ep 5,8-14; Ga 9, 1-38
Chủ đề: CHÚA KITÔ LÀ ÁNH SÁNG BAN SỰ SỐNG

Lời Chúa:"Ta là sự sáng thế gian, ai theo Ta sẽ được ánh sáng ban sự sống" (Ga,12).
Nhập lễ:
Kính thưa cộng đoàn phụng vụ,
Phụng vụ Lời Chúa chúa nhật 4 mùa chay hôm nay cho chúng ta thấy, Chúa Kitô là ánh sáng ban sự sống đã đến trong trần gian, để mở mắt thể xác và linh hồn cho những ai ngồi trong bóng tối của sự chết. Ai theo Người thì bước đi trong ánh sáng của ơn cứu độ:
Người mù từ thuở chào đời,
Nhờ tin vào Chúa, mắt ngời sáng lên!
Không tin, hồn tối như đêm,
Phép mầu Thánh tẩy làm nên con trời!
Giê - su ánh sáng ngàn đời,
Chiếu soi cuộc sống, vui tươi tâm hồn.
Hiệp dâng thánh lễ hôm nay, xin Chúa mở mắt linh hồn chúng ta để chúng ta xác tín niềm tin vào Chúa và sống sao cho xứng đáng như con cái của sự sáng, hầu chúng ta sẽ được chung phần với Đấng là nguồn sự sáng trong vinh quang bất diệt. Trong tâm tình đó, giờ đây chúng ta hãy thành tâm sám hối.
Sám hối:
X. Lạy Chúa, Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của chúng con. Xin Chúa thương xót chúng con.
Đ. Xin Chúa thương xót chúng con.
X. Lạy Chúa Kitô, ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý Chúa, thì người đó mới được Chúa nghe lời. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.
Đ. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.
X. Lạy Chúa, Chúa là ánh sáng ban sự sống đời đời cho chúng con. Xin Chúa thương xót chúng con.
Đ. Xin Chúa thương xót chúng con.
Kết: Xin Thiên Chúa toàn năng thương xót, tha tội và dẫn đưa chúng ta đến sự sống muôn đời.
CĐ: Amen.
Suy niệm:
Kính thưa quý ông bà anh chị em,
Trong công cuộc sáng tạo, Thiên Chúa dựng nên con người giống hình ảnh Thiên Chúa. Nói cách khác, con người là họa ảnh của Thiên Chúa, là tác phẩm tuyệt vời của Đấng Tạo Hoá. Thiên Chúa đặt để con người trong vườn Eden để cho họ thừa hưởng và trông thấy vẻ đẹp những kỳ quan Thiên Chúa tạo dựng. Thế nhưng, tổ tông loài người đã nghe lời ma quỹ dụ dỗ và họ đã sa ngã phạm tội. Phải chăng, vì tội kêu ngạo đã làm cho đôi mắt tâm hồn của họ ra hoen ố không còn nhận ra ánh sáng tình thương của Thiên Chúa nên họ đã quay lưng lại với Ngài. Chính vì tội lỗi đã nhập vào thế gian nên làm con người phải đau khổ và phải chết. Để giúp con người có đôi mắt tâm hồn trở về tình trạng nguyên thuỷ và được sống trong ân sủng của Thiên Chúa,phụng vụ Lời Chúa hôm nay giới thiệu cho chúng ta: Chúa Kitô là ánh sáng ban sự sống.
Thưa anh chị em, chúng ta vẫn thường nói: “Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn”. Nghĩa là đôi mắt phản ánh tâm hồn và tấm lòng con người. Bài đọc 1 hôm nay cho thấy Đavít là người con út của Giêsê, mà ban đầu ông coi thường không giới thiệu. Đavít “có mái tóc hoe, có đôi mắt xinh và gương mặt đẹp”. Đavít được Thiên Chúa tuyển chọn và sai Samuel xức dầu cho Ðavít làm vua thay thế vua Saulê đã lỗi nghĩa với Chúa. Và Chúa Thánh Thần hướng dẫn vua Ðavít từ ngày đó. Samuel được Chúa soi sáng và nhờ đó ông xác tín hơn vào việc Chúa làm: Không phải người phàm nhìn sao, Thiên Chúa cũng nhìn thế, bởi vì “người phàm chỉ trông thấy điều lộ trước mắt, còn Thiên Chúa trông thấy điều ẩn kín trong lòng”. Chính nhờ cặp mắt đức tin giúp cho Samuel có cái nhìn của Thiên Chúa. Cũng thế, người mù trong Tin nừng hôm nay nhờ cặp mắt đức tin mà anh nhận ra và tuyên xưng Chúa Giêsu là con Thiên Chúa. Người mù từ lúc mới sinh là biểu tượng cho tình trạng loài người sau nguyên tội: Con người sinh ra trong tội và phải sống trong tối tăm. Nay Chúa Giêsu, Đấng là ánh sáng ban sự sống, đến trần gian để ban cho loài người ánh sáng mới của ơn cứu độ. Bằng quyền năng của một Vị Thiên Chúa làm người, Chúa Giêsu đã cho người mù được sáng mắt thể xác và sau đó, gặp lại anh lần thứ hai, Chúa Giêsu mở mắt linh hồn cho anh để anh nhận biết Người là Con Thiên Chúa mà thờ lạy Người: “Lạy Thầy, tôi tin! Và anh sấp mình thờ lạy Chúa”.
Chuyện kể rằng, một vị ẩn sĩ hỏi các đồ đệ rằng: “Đâu là lúc đêm sắp tàn và ngày sắp đến ?” Nhiều câu trả lời của các học trò được nêu ra: Kẻ thì cho rằng đó là lúc ta có thể phân biệt từ xa một cây dừa với một cây cau. Người khác cho rằng đó là lúc ta có thể phân biệt được một con bò với một con trâu… Đáp án đúng nhất mà vị ẩn sĩ muốn dạy các đồ đệ như sau: “Đó là khi ta nhìn người khác và nhận ra họ là anh em của ta”.
Kính thưa quý ông bà anh chị em,
Ngàysắp đếnlà khi ta nhìn người khác và nhận ra họ là anh em của ta. Với những người biệt phái, họ nhìn Chúa Giêsu với cặp mắt thành kiến theo lăng kính của họ, bởi thế họ đã không nhận ra Người: “Người đó không phải bởi Thiên Chúa”. Tuy nhiên với anh mù thì khác, sau khi được Chúa Giêsu mở mắt thể xác anh cũng được Chúa mở mắt linh hồn, nhờ đó anh đã nhận ra Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa và anh sấp mình thờ lạy Người. Đức tin của anh đã giúp anh nhận ra Chúa Giêsu là ánh sáng ban sự sống. Ngày nay nhờ bí tích rửa tội, chúng ta được Chúa Giêsu mở mắt linh hồn để đón nhận ánh sáng chan hoà của Chúa. Cặp mắt đức tin này quan trọng hơn cặp mắt thể xác, vì nó giúp chúng ta xem điều gì đẹp lòng Chúa. Thánh Phaolô nói: “Xưa anh em là bóng tối, nhưng bây giờ, trong Chúa, anh em lại là ánh sáng. Vậy anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng; mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật.”
Nguyện xin Chúa giúp chúng ta xác tín niềm tin vào Chúa và thực hành những điều Chúa dạy, để chúng ta bước đi trong ánh sáng ban sự sống của Chúa là nguồn hạnh phúc đích thực. Amen.
Lm. Phêrô Nguyễn Văn Quang.
CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY NĂM A
Ga 9,1-41
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan
1 Khi ấy, ra khỏi Đền Thờ, Đức Giê-su nhìn thấy một người mù từ thuở mới sinh.
2 Các môn đệ hỏi Người: “Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?”
3 Đức Giê-su trả lời: “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh.
4 Chúng ta phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Thầy, khi trời còn sáng; đêm đến, không ai có thể làm việc được.
5 Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian.”
6 Nói xong, Đức Giê-su nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, 7 rồi bảo anh ta: “Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa” (Si-lô-ác có nghĩa là: người được sai phái). Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được.
8 Các người láng giềng và những kẻ trước kia thường thấy anh ta ăn xin mới nói: “Hắn không phải là người vẫn ngồi ăn xin đó sao?”
9 Có người nói: “Chính hắn đó!” Kẻ khác lại rằng: “Không phải đâu! Nhưng là một đứa nào giống hắn đó thôi!” Còn anh ta thì quả quyết: “Chính tôi đây!”
10 Người ta liền hỏi anh: “Vậy, làm sao mắt anh lại mở ra được như thế?”
11 Anh ta trả lời: “Người tên là Giê-su đã trộn một chút bùn, xức vào mắt tôi, rồi bảo: ‘Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa.’ Tôi đã đi, đã rửa và tôi nhìn thấy.”
12 Họ lại hỏi anh: “Ông ấy ở đâu?” Anh ta đáp: “Tôi không biết.”
13 Họ dẫn kẻ trước đây bị mù đến với những người Pha-ri-sêu.
14 Nhưng ngày Đức Giê-su trộn chút bùn và làm cho mắt anh ta mở ra lại là ngày sa-bát.
15 Vậy, các người Pha-ri-sêu hỏi thêm một lần nữa làm sao anh nhìn thấy được. Anh trả lời: “Ông ấy lấy bùn thoa vào mắt tôi, tôi rửa và tôi nhìn thấy.”
16 Trong nhóm Pha-ri-sêu, người thì nói: “Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày sa-bát”; kẻ thì bảo: “Một người tội lỗi sao có thể làm được những dấu lạ như vậy?” Thế là họ đâm ra chia rẽ.
17 Họ lại hỏi người mù: “Còn anh, anh nghĩ gì về người đã mở mắt cho anh?” Anh đáp: “Người là một vị ngôn sứ!”
18 Người Do-thái không tin là trước đây anh bị mù mà nay nhìn thấy được, nên đã gọi cha mẹ anh ta đến. 19 Họ hỏi: “Anh này có phải là con ông bà không? Ông bà nói là anh bị mù từ khi mới sinh, vậy sao bây giờ anh lại nhìn thấy được?”
20 Cha mẹ anh đáp: “Chúng tôi biết nó là con chúng tôi, nó bị mù từ khi mới sinh.
21 Còn bây giờ làm sao nó thấy được, chúng tôi không biết, hoặc có ai đã mở mắt cho nó, chúng tôi cũng chẳng hay. Xin các ông cứ hỏi nó; nó đã khôn lớn rồi, nó có thể tự khai được.”
22 Cha mẹ anh nói thế vì sợ người Do-thái. Thật vậy, người Do-thái đã đồng lòng trục xuất khỏi hội đường kẻ nào dám tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô.
23 Vì thế, cha mẹ anh mới nói: “Nó đã khôn lớn rồi, xin các ông cứ hỏi nó.”
24 Một lần nữa, họ gọi người trước đây bị mù đến và bảo: “Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa. Chúng ta đây, chúng ta biết ông ấy là người tội lỗi.”
25 Anh ta đáp: “Ông ấy có phải là người tội lỗi hay không, tôi không biết. Tôi chỉ biết một điều: trước đây tôi bị mù mà nay tôi nhìn thấy được!”
26 Họ mới nói với anh: “Ông ấy đã làm gì cho anh? Ông ấy đã mở mắt cho anh thế nào?”
27 Anh trả lời: “Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông vẫn không chịu nghe. Tại sao các ông còn muốn nghe lại chuyện đó nữa? Hay các ông cũng muốn làm môn đệ ông ấy chăng?”
28 Họ liền mắng nhiếc anh: “Có mày mới là môn đệ của ông ấy; còn chúng ta, chúng ta là môn đệ của ông Mô-sê.
29 Chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã nói với ông Mô-sê; nhưng chúng ta không biết ông Giê-su ấy bởi đâu mà đến.”
30 Anh đáp: “Kể cũng lạ thật! Các ông không biết ông ấy bởi đâu mà đến, thế mà ông ấy lại là người đã mở mắt tôi!
31 Chúng ta biết: Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy.
32 Xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh.
33 Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì.”
34 Họ đối lại: “Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư?” Rồi họ trục xuất anh.
35 Đức Giê-su nghe nói họ đã trục xuất anh. Khi gặp lại anh, Người hỏi: “Anh có tin vào Con Người không?”
36 Anh đáp: “Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin?”
37 Đức Giê-su trả lời: “Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây.”
38 Anh nói: “Thưa Ngài, tôi tin.” Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người.
39 Đức Giê-su nói: “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù!”
40 Những người Pha-ri-sêu đang ở đó với Đức Giê-su nghe vậy, liền lên tiếng: “Thế ra cả chúng tôi cũng đui mù hay sao?”
41 Đức Giê-su bảo họ: “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: ‘Chúng tôi thấy’, nên tội các ông vẫn còn!”
SUY NIỆM: ĐẾN RỬA Ở HỒ SILÔÁC
Qua Lời Tổng Nguyện của Chúa Nhật Tuần 4 Mùa Chay Năm A hôm nay, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Chúa đã sai Con Một giáng trần để thực hiện công trình kỳ diệu là cho loài người được hòa giải với Chúa. Xin Chúa ban cho toàn thể dân Chúa khắp hoàn cầu, được lòng tin sống động, mà hăm hở đón mừng Lễ Vượt Qua sắp tới.
Hăm hở đón mừng Lễ Vượt Qua, tiến bước theo Vị Thượng Tế, tuân giữ giao ước Chúa, như trong bài đọc một Kinh Sách, trích sách Lêvi: Nghi thức tấn phong các tư tế của Cựu Ước. Tư tế không chỉ là người dâng hy lễ, mà trên hết mọi sự, tư tế là người giữ kho tàng hiểu biết về Thiên Chúa, là tôn sư dạy người ta giữ Giao Ước, là người có trách nhiệm chủ yếu giúp cho Dân tiến lên. Trong khi, sứ mạng của ngôn sứ có tính thời vụ, thì, tư tế là bộ phận thường trực, đóng vai chuyển tiếp. Cuối cùng, tư tế là trung gian bình thường để xin và chuyển lại phúc lành của Thiên Chúa… Trong dòng tộc Lêvi, có nhiều người kế tiếp nhau làm tư tế, bởi vì họ phải chết, không thể giữ chức vụ đó mãi. Còn Đức Giêsu, chính vì Người hằng sống muôn đời, nên phẩm vị tư tế của Người tồn tại mãi. Chúa đã đề cao ông Aharon, đặt ông làm tư tế cho dân, ban cho ông được vinh quang, hạnh phúc.
Hăm hở đón mừng Lễ Vượt Qua, tiến bước trong ánh sáng Chúa, như trong bài đọc hai Kinh Sách, trích Khảo Luận của thánh Âutinh: Đức Kitô là đường đưa tới ánh sáng, là sự thật và là sự sống… Con chê ghét mọi đường nẻo gian tà. Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi. Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời ban phúc trường sinh.
Hăm hở đón mừng Lễ Vượt Qua, tiến bước trong sự chăn dắt của Chúa, như trong bài đọc một Thánh Lễ, trích sách Samuen Quyển I: Ông Đavít được xức dầu tấn phong làm vua Ítraen. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 22: Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ. Người đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi. Trong bài đọc hai Thánh Lễ, trích thư của thánh Phaolô tông đồ gửi tín hữu Êphêxô: Từ chốn tử vong, trỗi dậy đi nào! Đức Kitô sẽ chiếu sáng ngươi!
Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Chúa nói: Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống. Trong bài Tin Mừng, thánh Gioan tường thuật: Anh mù đến rửa ở hồ Silôác và khi về thì nhìn thấy được. Những ai đang sầu khổ, hãy hớn hở reo mừng và hân hoan tận hưởng nguồn an ủi chứa chan. Ông Samuen đã xức dầu tấn phong Đavít làm vua, để dẫn dắt Dân Chúa. Chúa là mục tử chăn dắt ta, ta chẳng thiếu thốn gì, dầu qua lũng âm u, ta sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Người bảo vệ, ta vững dạ an tâm. Xưa chúng ta là bóng tối, nhưng bây giờ, trong Đức Kitô, chúng ta lại là ánh sáng. Vậy, hãy tỉnh giấc đi, hỡi những người còn đang ngủ. Từ chốn tử vong, trỗi dậy đi nào. Đức Kitô sẽ chiếu sáng chúng ta. Chúa xức bùn vào mắt ta: ta đi, ta rửa, ta thấy, và ta tin Người. Các tư tế không thể giữ chức vụ đó mãi, vì họ phải chết, còn, Vị Thượng Tế của chúng ta là Đức Kitô, thì, tồn tại mãi mãi, Người là ánh sáng thế gian. Ai theo Người sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng, sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống. Đây vừa là một lệnh truyền vừa là một lời hứa. Chúng ta hãy thi hành lệnh truyền của Người, để, đạt được điều Người đã hứa. Chúng ta hãy hành động, hãy đi theo Chúa; hãy tháo gỡ xiềng xích ngăn cản chúng ta đi theo Người. Đấng ở nơi Chúa Cha là sự thật và sự sống, đã mặc lấy xác phàm, trở thành đường đi cho chúng ta. Chúa đã sai Con Một giáng trần để thực hiện công trình kỳ diệu là cho loài người được hòa giải với Chúa. Ước gì chúng ta có được lòng tin sống động, mà hăm hở đón mừng Lễ Vượt Qua sắp tới. Ước gì được như thế!
Lm. Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB
SUY NIỆM: HÃY BIẾT MÌNH
Có hai vợ chồng đi tham quan một cửa hàng trưng bày tranh thêu lụa. Vừa bước tới cửa bà vợ đã chăm chú nhìn vào bên trong một hồi lâu rồi nhận xét: "Tranh gì đâu mà xấu vậy? Thêu người đàn bà chẳng giống ai!". Ông chồng vội bịt miệng bà và nói: "Không phải tranh đâu, đó là gương đấy. Đó là hình ảnh của bà được phản chiếu qua gương đấy! Chớ nhận xét hồ đồ!". Người đàn bà quá xấu hổ đành bỏ ra về.
Đó cũng là cảnh mù loà đáng thương của nhiều người trong chúng ta. Khi chúng ta phê bình chỉ trích người khác đang khi chính chúng ta vẫn còn đó đầy những lỗi lầm. Khi chúng ta chê bai anh em đang khi chúng ta vẫn còn đó những khuyết điểm và thói hư tật xấu. Chúng ta thường cắt nghĩa tốt về mình nhưng lại quá hà khắc về lối sống của tha nhân. Chúng ta thường mù loà về bản thân mình nhưng lại thích soi mói anh em. Đúng như cha ông ta vẫn nói:
"Chân mình còn lấm bê bê
Lại cầm bó đuốc mà rê chân người".
Bài tin mừng hôm nay nói đến rất nhiều nhân vật nhưng chỉ có một người là sáng mắt thực sự. Người có mắt sáng là người biết nhìn nhận sự việc đúng sự thật. Người sáng mắt không lệch lạc về quan điểm, về sự việc. Người sáng mắt biết nhận định đúng về những gì đang diễn ra chung quanh. Đó là anh mù từ thuở mới sinh. Anh mù về thể xác nhưng sáng về tinh thần. Anh đã dám nhìn nhận sự thật cho dù vì đó mà anh bị trục xuất khỏi cộng đoàn. Anh đã công khai nói lên niềm tin của mình vào Đấng đã chữa lành cho anh. Cho dù anh gặp nhiều sự chống đối, nhiều hiểm nguy nhưng anh vẫn phải nói đúng sự thật về những gì đã diễn ra trong cuộc đời anh.
Nhưng tiếc thay nhiều người mắt sáng nhưng lại tối tâm hồn. Đó là các biệt phái đầy kiêu căng đã không thể nhìn thấy quyền năng của Chúa đang hiển thị trước mặt các ông. Đó là cha mẹ của anh mù vì sợ hãi đã lẩn trốn sự thật, không dám nói đúng sự thật cũng đồng nghĩa chấp nhận mình mù loà giữa đời. Người biệt phái vì lòng ghen ghét mà họ đã có cái nhìn lệch lạc về việc làm của Chúa Giêsu. Cha mẹ anh mù vì cầu an nên thiếu trách nhiệm với con và với người đã cứu con mình. Xem ra bệnh mù về tâm hồn có muôn vàn nguyên nhân dẫn đến mù loà. Và xem ra bệnh mù thể xác thì ít hơn bệnh mù về tinh thần. Bởi lẽ, mỗi một cách sống sai với lương tri con người đều được coi là căn bệnh mù loà của tâm hồn. Chúng ta có thể nhìn thấy những triệu chứng cũng như nguyên do của bệnh mù loà tâm hồn như sau:
Khi chúng ta quá ích kỷ dẫn đến không thấy nhu cầu của thân nhân để cảm thông và giúp đỡ.
Khi chúng ta quá vô tâm nên không thấy nỗi đau của anh em mà chính chúng ta đã gây nên cho họ.
Khi chúng ta quá lười biếng đến nỗi không còn thấy trách nhiệm và bổn phận của mình với gia đình và xã hội.
Khi chúng ta quá bảo thủ và thành kiến nên không thấy điều hay, điều tốt của tha nhân.
Khi vì phán đoán nông cạn, hời hợt làm chúng ta mù loà không thấy những giá trị của người anh em và khiến ta hay lên án một cách hồ đồ, thiếu công bình và bác ái.
Nhưng điều quan yếu hơn cả đối với các tín hữu trong Mùa Chay không phải chỉ là nhìn nhận sự khuyết tật mù loà của mình đế sám hối canh tân, đề cầu xin Chúa chữa lành mà còn phải có một đời sống đức tin như anh mù sau khi được sáng mắt sáng lòng.
Đó là một đức tin đầy lạc quan, biết reo vui cảm tạ Thiên Chúa vì những ơn đã lãnh nhận. Đó là một đức tin đầy can đảm, sẵn sàng trực diện với những cạm bãy thù nghịch của những kẻ đồng đạo tội lỗi hay đã bị thoái hoá. Và đó cũng còn là một đức tin vững vàng chấp nhận thiệt thòi cô đơn, vì dám làm chứng cho ánh sáng giữa bóng tối tội lỗi, sa đoạ của trần đời hôm nay.
Nguyện xin Chúa là ánh sáng trần gian soi lối cho chúng ta đi trong ánh sáng và chân lý. Xin cho chúng ta can đảm đoạn tuyệt với bóng tối tội lỗi và chân thành sống theo ánh sáng của lề luật và tình thương. Amen.
(Trích từ 'Cùng Nhau Suy Niệm')
Lm Giuse Tạ Duy Tuyền
SUY NIỆM:
Ánh sáng luôn là một phương tiện giúp con người rất nhiều trong cuộc sống ở mọi lãnh vực khác nhau. Nhờ ánh sáng, con người có thể đi trong đêm tối không sợ lạc đường, nhờ ánh sáng, trong các gia đình có những bữa cơm ấm áp hơn trong tình người, đặc biệt, trong hành trình đức tin của mỗi tín hữu, nhờ ánh sáng, sẽ không bao giờ lạc lối. Ánh sáng đó là gì nếu không phải là Chân Lý, nếu không phải là Lời Chúa, nếu không phải là sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần qua Mẹ Giáo Hội. Chúa nhật thứ 4 Mùa Chay được gọi là Chúa nhật màu hồng, Chúa nhật của niềm vui, Chúa nhật của ánh sáng.
Trong cuộc sống, con người thường lầm tưởng những nghĩ suy của mình giống những nghĩ suy của Thượng Đế. Do những lầm tưởng đó, con người thường áp đặt cho Thượng Đế những kế hoạch, những tính toán theo kiểu thế gian. Câu chuyện trong bài đọc 1 được trích từ sách Samuel quyển thứ nhất, kể về một biến cố rất đặc biệt, là Giavê chọn một con người để thay Ngài hướng dẫn dân riêng của Giavê luôn đi trong chính lộ, con người đó là Đavid. Khi Người của Thiên Chúa đến thăm gia đình ông Isai để chọn một trong số con trai của ông như là người đại diện của Thiên Chúa, ông Isai đã giới thiệu các con mình từ đứa lớn, khoẻ, cho đến đứa có tài năng, nhưng người của Thiên Chúa không chấp nhận, cuối cùng, người của Thiên Chúa đã chọn cậu con trai út, dù đó chỉ là một thanh niên dáng mảnh khảnh, để làm người đại diện cho Thiên Chúa, giúp đỡ dân đi theo kế hoạch của Ngài: “Có phải người xức dầu của Chúa đang ở trước mặt Chúa đây không?” Và Chúa phán cùng Samuel: “Ðừng nhìn xem diện mạo, vóc cao, vì Ta đã loại nó rồi. Ta không xem xét theo kiểu của con người, vì chưng con người nhìn xem bên ngoài, còn Thiên Chúa thì nhìn xem tâm hồn”. Isai lần lượt đem bảy đứa con mình ra trình diện với Samuel. Samuel nói với Isai: “Chúa không chọn ai trong những người này”. Samuel nói tiếp: “Tất cả con ông có bấy nhiêu đó phải không?” Isai đáp: “Còn một đứa út nữa, nó đi chăn chiên”. Samuel nói với Isai: “Ông hãy sai người đi gọi nó về, vì chúng ta không ngồi vào bàn ăn trước khi nó về”. Isai sai người đi tìm đứa con út. Ðứa út này có mái tóc hoe, có đôi mắt xinh và gương mặt đẹp. Chúa phán: “Ngươi hãy chỗi dậy, xức dầu lên nó, vì chính nó đó”. Thiên Chúa là vậy, Ngài nhìn thấu tận tâm hồn, Ngài cần nơi con người sự chân thành, khiêm tốn, chứ không cần nơi con người tài năng, tri thức và sức khoẻ, tất cả những yếu tố đó chỉ là phương tiện, giúp con người khi thực hiện kế hoạch của Thiên Chúa được viên mãn.
Khi hiện diện giữa cộng đoàn giáo dân thành Ephêsô, thánh Tông Đồ dân ngoại đã đánh thức con người mới của họ, có thể bấy lâu nay đang ngủ say trong sự kìm toả của truyền thống, của lề luật: “Hỡi kẻ đang ngủ, hãy thức dậy, hãy vùng dậy ra khỏi cõi chết, và Chúa Kitô sẽ chiếu sáng trên ngươi”. Khi họ ngủ quên trong những vòng kim cô đó, họ quên luôn cả phẩm giá mới của mỗi người, bởi họ đã được Chúa Kitô phục sinh chiếu một luồng sáng mới trên cuộc đời và con người của họ: “Anh em thân mến, xưa kia anh em là sự tối tăm, nhưng bây giờ, anh em là sự sáng trong Chúa. Anh em hãy ăn ở như con của sự sáng, bởi vì hoa trái của sự sáng ở tại tất cả những gì là tốt lành, là công chính và chân thật”. Khi mỗi người được ở trong thế giới sự sáng, họ được mời gọi sống như con cái sự sáng, là chiếu toả ánh sáng phục sinh của Đức Giêsu Kitô qua cuộc đời và tâm tình sống mỗi ngày. Để ánh sáng phục sinh chiếu toả trên mỗi con người, mỗi biến cố, người tín hữu Kitô cần nghe được Lời Chúa nhắc mỗi ngày, điều Chúa muốn trong mỗi biến cố, và kế hoạch của Ngài trong mỗi cuộc đời, mỗi con người. Những gì người tín hữu thực hiện trong cuộc sống, nếu theo kế hoạch của Thiên Chúa, luôn đem lại lợi ích thực tiễn cho bản thân, cho những người chung quanh, đặc biệt cho tương lai của chính mình. Đó cũng là lúc người tín hữu biến cuộc đời mình trở thành một ngọn đèn cháy sáng, một đốm lửa của tình thương, một hơi ấm của Tin Mừng. Đốm lửa đó, ngọn đèn đó và hơi ấm đó có thể giúp tha nhân tìm thấy sự hiện diện của Thiên Chúa tình yêu giữa lòng thế giới, trong mỗi gia đình và bên cạnh mỗi người giữa cuộc đời.
Không có gì hạnh phúc và vui sướng khi được bước từ thế giới của sự tối tăm vào thế giới của sự sáng. Người mù trong câu chuyện thánh Gioan kể lại trong bài Tin Mừng, là một minh chứng. Anh ta sinh ra trong thế giới của những người khiếm thị, mỗi ngày chỉ ước ao được nhìn thấy ánh sáng mặt trời, nhưng không thể được: “Ðó chẳng phải là người vẫn ngồi ăn xin sao?” Có kẻ nói: “Ðúng hắn”. Lại có người bảo: “Không phải, nhưng là một người giống hắn”. Còn anh ta thì nói: “Chính tôi đây”. Khát vọng sâu xa nhất của người mù là có một đôi mắt sáng. Đôi mắt sáng giúp anh ta hoà nhập vào một gia đình, giúp anh ta hoà nhập vào một cộng đoàn, và hơn nữa, giúp anh ta đứng trên đôi chân phẩm giá một con người. Chỉ vì thiếu đi đôi mắt thể lý, người khiếm thị này như bị lãng quên giữa gia đình và giữa cộng đoàn, vì thiếu đi một phần quan trọng của thân thể, anh ta bị tách ra khỏi cộng đoàn, sống bên lề xã hội, điều tất yếu là anh ta không được cùng cộng đoàn tham gia mọi sinh hoạt tâm linh. Trước một khát vọng rất chân thành nhưng đầy mãnh liệt đó, Đấng Cứu Thế đã động lòng trắc ẩn, xức mắt cho anh ta, bảo anh ta đi rửa sạch bằng dòng nước hồ Siloe: “Chúa Giêsu đi qua, thấy một người mù từ khi mới sinh. Người nhổ xuống đất, lấy nước miếng trộn thành bùn, rồi xoa bùn trên mắt người ấy, và bảo: “Anh hãy đến hồ Silôe mà rửa” (chữ Silôe có nghĩa là được sai)”. Anh ta ra đi và rửa, rồi trở lại thì trông thấy được”. Được mở mắt, anh chàng khiếm thị quá đỗi vui mừng, anh còn được hướng dẫn đi dâng lễ vật và trình diện với các Tư tế, để từ đó, anh được trở lại với cộng đoàn, được hồi sinh trong tình liên đới, và hơn nữa, anh sẽ được lề luật và của lễ giúp hoàn thiện ơn gọi làm người. Cũng từ dấu lạ được sáng mắt thể lý, đôi mắt tinh thần của anh ta cũng được chữa lành. Anh đã nhận ra người cho anh sáng mắt là Đấng đem ánh sáng cho nhân loại. Anh đã tin và đi theo Ngài. Đức Giêsu được nhìn nhận là ánh sáng của Thiên Chúa, cuộc đời và sứ điệp của Ngài là một bó đuốc sáng, dẫn đưa bao người ra khỏi thế giới bóng tối và sự chết, khi họ tin nhận Ngài, đồng thời, Ngài đưa họ đi vào vương quốc của sự sáng, vương quốc của tình yêu, vương của của sự sống đời đời.
Khi thế giới đang đối diện với đại dịch lớn, làm thay đổi mọi sinh hoạt của nhân loại nói chung và của Giáo hội nói riêng. Chính trong lúc này, mỗi tín hữu cần có một đôi mắt tinh thần thật sáng, để nhìn nhận câu chuyện hiện tại thực hư như thế nào, cần có một đôi mắt tinh thần sáng, để thấy hành trình đức tin của nhân loại đang đi hướng nào, rồi từ đây, ánh sáng Lời Chúa và Nguồn Nước hằng sống sẽ rửa đôi mắt đức tin mỗi người được sáng hơn trước mọi biến cố của thế giới, hầu có thể giúp củng cố niềm tin cho anh chị em mình.
Trong đời sống hàng ngày của mỗi tín hữu Kitô, đôi mắt đức tin có những lúc bị che lấp bởi những đám mây ảo, hoặc những tảng băng tàng hình. Để có một gia đình hạnh phúc và ngập tràn yêu thương, mỗi thành viên nên thẳng thắn nhìn nhận những khiếm khuyết của nhau, chấp nhận nó để giúp nhau hoàn thiện, chấp nhận những khiếm khuyết là một đòi hỏi phải từ bỏ cái tôi và những cá tính của mình, để có thể thấy nơi người mình yêu, dù còn thiếu sót, nhưng thật đáng yêu và đáng trân trọng biết bao. Đó cũng là lúc đôi mắt tinh thần được rửa sạch, được chăm sóc, để nhận ra đó là một nửa của cuộc đời mình, và nơi một nửa đó, có sự hiện diện của một Thiên Chúa tình yêu, mình phải trân trọng và yêu thương. Những yếu tính của hôn nhân Công giáo hay tự nhiên đều mời gọi những ai chọn sống hãy có một đôi mắt tinh thần đủ sáng, đủ tinh anh, để chấp nhận nhau trong mọi hoàn cảnh cuộc đời. Còn đời sống hiến dâng cũng là một ơn gọi đặc biệt trong kế hoạch của Thiên Chúa. Có thể nói rằng đó là một ơn gọi dành riêng cho đời phục vụ, phục vụ tha nhân, phục vụ các thành viên trong cộng đoàn, phục vụ cả những người mình khó chấp nhận. Để có thể sống ơn gọi phục vụ cách vẹn tròn, cần có một đôi mắt tinh thần đủ sáng, một đôi mắt đức tin đủ xác tín và đầy tình tích cực, để trong mọi hoàn cảnh được gởi tới, người tín hữu Kitô sống ơn gọi phục vụ có thể nhận ra một Đức Kitô đang nhận chịu muôn vàn thiệt thòi, đau khổ, trong đó có cả những thiếu thốn về cả vật chất lẫn tinh thần, từ đó, mới có đủ nghị lực để đón nhận họ, phục vụ họ, yêu thương họ và xa hơn nữa là tha thứ cho họ.
Mỗi ơn gọi đều có những giá trị thiêng liêng trong hành trình. Mỗi ơn gọi cũng có những khó khăn nhất định khi bước vào. Lắm lúc người tín hữu dễ sai lạc trong hành trình ơn gọi của mình, bởi đôi mắt đức tin chưa đủ sáng, chưa đủ tự tin và chưa thực sự xác tín để sống và đón nhận những thách đố trong hành trình. Đó có phải là lúc chúng ta cần đến sự hiện diện của Thiên Chúa, để người tẩy rửa những bóng đen vô hình, đang che lấp những mảnh sáng của niềm tin và lòng mến trong tâm hồn. Cũng có lúc cần đến những hơi nóng của đời phục vụ, để làm tan chảy những tảng băng tàng hình, đang ẩn hiện trên bầu trời tình yêu, nơi những người chọn ơn gọi phục vụ được gởi tới. Đó là lúc đôi mắt đức tin và tình yêu đủ sáng, đủ nóng và đủ ấm để nhận ra sự hiện diện cách này cách khác của Thiên Chúa giữa lòng nhân loại.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa chạnh lòng thương người mù từ thuở mới sinh, để rồi trả lại cho anh ta đôi mắt thể lý trong sáng, cũng như chữa lành đôi mắt đức tin của anh, để anh tin và đi theo Chúa, xin Chúa chữa đôi mắt chúng con, dù đôi mắt thể xác còn tinh anh, nhưng đôi mắt đức tin có lúc đã bị mù, bị che phủ bởi sự ích kỷ và tính toán của kiếp người. Chúa đã đón nhận và hướng dẫn anh mù lên đường để làm chứng về một Đấng đem ánh sáng tình yêu và hy vọng đến cho mọi người, xin cho chúng con được tiếp bước người mù đó, trong mỗi ơn gọi được Chúa trao mời, cố gắng lên đường, cố gắng phục vụ, và cố gắng đón nhận tha nhân, bởi nơi đó, một Thiên Chúa yêu thương họ và yêu thương chúng con, đang hiện diện. Amen.
Lm. Phêrô Trần Bảo Ninh
SUY NIỆM: LẠY CHÚA, XIN CHO CON ĐƯỢC THẤY!
Ngày xưa, mỗi khi ra khỏi nhà vào ban đêm, người Nhật Bản thường có thói quen tay cầm theo một chiếc lồng đèn. Chuyện kể rằng: Vào một đêm nọ, có một người mù đến thăm một người bạn cùng xóm. Lúc từ giã ra về, thấy anh bạn mù không cầm chiếc lồng đèn trên tay nên anh chủ nhà mới lấy chiếc lồng đèn của mình để đưa cho anh mù.
Nhưng anh mù từ chối và nói:
- Đối với một người mù như tôi thì ngày cũng như đêm, bóng tối cũng như ánh sáng. Cho nên chiếc lồng đèn này chẳng có ý nghĩa gì hết. Cầm nó theo cũng vô ích!
Người bạn mới giải thích:
- Tôi biết anh không cần chiếc lồng đèn để soi đường. Nhưng nếu anh không cầm nó trên tay thì người khác sẽ không thấy anh và có thể họ sẽ đụng vào người anh đấy!
Anh mù nghe anh bạn lý luận có lý nên đành nhận lấy chiếc lồng đèn và ra về. Đi được một đoạn đường, bất ngờ anh mù bị một người đi ngược chiều tông vào, đụng vào. Anh ta tức tối và la to lên:
- Bộ mày đui hả? Không thấy tao cầm chiếc lồng đèn trên tay sao?
Người kia trả lời như sau:
- Đúng là anh đang cầm một chiếc lồng đèn đấy. Nhưng ngọn đèn bên trong nó đã tắt rồi. Cho nên tôi không thấy anh. Xin lỗi anh bạn nhé!
Câu chuyện trên giúp cho chúng ta hiểu được: đi trong bóng đêm ai cũng cần có ánh sáng. Trong đêm tối, tưởng chừng như không cần thiết nhưng người mù cũng cần cầm đèn sáng trên tay. Anh cầm đèn không phải để cho mình nhưng để người khác thấy anh mà tránh hoặc có thể họ sẽ giúp đỡ anh. Trong đêm tối, người sáng mắt cũng cần ánh sáng. Ánh sáng giúp anh thấy đường đi, thấy người khác và biết được những chướng ngại vật trên đường. Ánh sáng giúp anh đi đúng đường, đúng hướng, không bị lầm đường lạc lối. Ai cũng cần có ánh sáng tự nhiên để nhận biết mình và thấy tha nhân.
Bài Tin Mừng của Chúa Nhật IV Mùa Chay hôm nay, Thánh Gioan cũng kể cho chúng ta nghe câu chuyện về anh mù. Anh này bị mù từ nhỏ, bị mù bẩm sinh. Vì mù nên anh không biết khuôn mặt của mình, không biết cha mẹ mình là ai và những người thân của mình như thế nào. Anh cũng không thấy được vẻ đẹp của vũ trụ và thiên nhiên. Cuộc sống của anh toàn là một màu đen. Ngày cũng như đêm. Đêm cũng như ngày. Ai cũng như nhau. Anh phải sống trong một tâm trạng buồn thảm và thất vọng hoàn toàn. Nhiều người cho rằng vì có tội nên anh mới bị trừng phạt như thế. Nhưng thật may, Chúa Giêsu đã thấy anh và chữa anh sáng mắt. Chúa không chỉ chữa cho anh được sáng đôi mắt thể xác, giúp anh thấy mình, thấy tha nhân, thấy cảnh vật xung quanh; nhưng quan trọng hơn, Ngài còn chữa lành đôi mắt đức tin của anh nữa. Chúa đã hỏi anh: "Anh có tin vào con người không? Anh đáp: "Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin?" Chúa Giêsu trả lời: "Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây". Anh nói: "Thưa Ngài, tôi tin". Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người" (Ga 9,35-38). Chúa cho anh được thấy Ngài, được gặp Ngài, được tin Ngài và thờ phượng Ngài.
Chúng ta là những người rất diễm phúc. Diễm phúc vì được Chúa ban cho đôi mắt lành lặn, một đôi mắt sáng. Ta hãy cám ơn Chúa về ân huệ đó. Tuy nhiên, đôi mắt thể xác của chúng ta sáng nhưng có thể đôi mắt tinh thần, đôi mắt tâm hồn, đôi mắt đức tin của ta bị mù loà; như Chúa Giêsu nói với những người Pharisêu: "Tôi đến thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù" (Ga 9,39). Đúng là có những người nhìn thấy, có những người sáng mắt nhưng tâm hồn của họ lại mù loà. Ta thường thấy có 3 loại mù loà tinh thần như sau:
1. Mù loà về bản thân
Mù vì không biết rõ mình; không biết những tài năng, những khả năng mà Thiên Chúa đã ban cho. Mù vì không thấy rõ những giới hạn, những khuyết điểm, những lỗi lầm, những sai trái của bản thân. Ta thường sáng chuyện của người nhưng lại mù tối, mù mờ chuyện của mình. Có khi ta cũng giống như những anh mù xem voi. Ta chỉ thấy một khía cạnh nhỏ của vấn đề mà vội vàng kết luận cho đó là đúng, là sự thật, là chân lý. Ta thường có những phán đoán sai lầm, chủ quan. Tệ hơn nữa là lương tâm của ta bị mù tối; không phân biệt được điều tốt và điều xấu; mất ý thức đối với tội.
2. Mù loà về tha nhân
Ta không muốn thấy những tài năng, những điểm tốt, điểm tích cực của anh chị em để mà học hỏi, khen ngợi; nhưng ngược lại, ta chỉ thích thấy những điểm tiêu cực, điểm xấu, khuyết điểm để chỉ trích, chê bai, coi thường và có khi hạ bệ người khác. Ta cũng thấy nhưng thấy một cách phiến diện, tiêu cực; ta cũng có thể bị mù về lòng nhân: thấy người khác đau khổ mà không chạnh lòng thương, biết người ta nghèo mà không ra tay giúp đỡ, ta làm ngơ vì không dám dấn thân nhập cuộc.
3. Mù loà về Thiên Chúa
Ta không nhận ra được sự hiện diện của Thiên Chúa trong vũ trụ này. Không thấy Thiên Chúa hiện diện trong Giáo Hội, nơi tha nhân, trong Lời Chúa và trong Thánh Thể. Ta không thấy Thiên Chúa đang đồng hành với mình; không cảm nghiệm được những kỳ công mà Thiên Chúa đã làm; và không tin có Thiên Chúa đang hiện hữu trong thế giới này.
Lạy Chúa Giêsu là ánh sáng thế gian, xin Chúa hãy mở đôi mắt tinh thần của con để con thấy được những bất toàn, những giới hạn, những khuyết điểm của con. Xin Chúa hãy mở đôi mắt tâm hồn của con để con thấy được những điều hay, những điều tốt nơi anh chị em con. Xin Chúa hãy mở đôi mắt đức tin của con để con thấy Chúa, nhận ra Chúa và cảm nhận được tình yêu của Chúa dành cho con. Lạy Chúa, xin cho con được thấy. Amen.
Lm. Phaolô Trương Hoàng Phong
